JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếCác Hiệp định thương mại tự do (FTAs) có thể là tự do nhưng liệu có công bằng?

Các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) có thể là tự do nhưng liệu có công bằng?

Toàn cầu hóa, tự do thương mại, hiệp định thương mại tự do là những khái niệm được sử dụng chủ yếu bởi các nhà kinh tế học hoặc những nhà chiến lược quốc tế giờ đây đã trở nên phổ biến với người dân tại các nước phát triển. Điều này là tốt vì những khái niệm này giờ đây đã trở thành thực tế và thực tế đang thay đổi từng ngày từ những gì chúng ta mua tại các cửa hàng đến làm thế nào để giữ được công việc của mình.

Cuộc Đại suy thoái cuối những năm 1920 đầu 1930 đã làm suy yếu nền thương mại toàn cầu và nhu cầu cắt giảm các rào cản thương mại buộc phải được chấp nhận rộng rãi. Kể từ khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ 2 mục tiêu này đã được theo đuổi dưới hình thức đàm phán thương mại đa phương. Những nỗ lực này nhằm cắt giảm hàng rào thương mại (gồm thuế quan và phi thuế quan) đến mức thấp nhất và đã đạt được một số kết quả.

Tuy nhiên, các cuộc đàm phán thương mại đa phương là những trải nghiệm vô cùng vất vả. Mỗi nước đều muốn thấy các quốc gia khác loại bỏ rào cản cho mình nhưng vẫn muốn duy trì những biện pháp bảo hộ của mình đối với các ngành công nghiệp trong nước. Và loại “hàng hóa” được giao dịch cũng thay đổi, bao gồm cả thương mại dịch vụ cũng như các vấn đề về sở hữu trí tuệ và đầu tư nước ngoài. Khi đàm phán đa phương trở nên khó khăn hơn, một vài quốc gia đã lựa chọn Hiệp định thương mại song phương để thay thế.

FTA và các hiệp định cấp khu vực ra đời vì động cơ chính trị nhiều hơn là lý do kinh tế - Liên minh châu Âu (EU) ra đời chủ yếu vì chính trị; Nga cũng muốn xây dựng một khu vực kinh tế mà họ có thể chi phối; Mỹ muốn có Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) với mong muốn cân bằng lại vị thế của Trung Quốc. Một số quốc gia nhỏ hơn như Australia lại quan tâm nhiều hơn đến lợi ích mà các thành viên trong một liên minh nào đó có thể mang lại cho họ, ví như một người cố gắng để không phải đứng dậy khi âm nhạc đã dừng trong trò chơi “chiếc ghế âm nhạc”.
27-FTA
Các nhà kinh tế không thích FTAs lẫn các thỏa thuận khu vực điển hình như khía cạnh thương mại trong liên minh châu Âu. Về mặt lý thuyết, tự do thương mại mở rộng thị trường và làm cho hàng hóa trở nên rẻ hơn nhưng FTAs chỉ giải quyết từng phần. Nước A nhập khẩu từ nước B bởi vì có FTA với nước B trong khi họ có thể đạt được một hợp đồng có lợi hơn với nước C. Nhưng FTA đã trở thành công cụ của các chính trị gia khi muốn có một sự kiện công nổi bật, như một buổi lễ ký kết hiệp định tự do thương mại.

Các chính sách thương mại truyền thống tìm cách khuyến khích thương mại quốc tế, tập trung vào thuế quan và các rào cản khác có thể gây trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, ngày nay, một loạt chính sách của các chính phủ có thể hỗ trợ cho các công ty địa phương đánh bại đối thủ nước ngoài tại thị trường nội địa hoặc thị trường nước ngoài thông qua các biện pháp như trợ cấp chính phủ, tín dụng xuất khẩu, hoàn thuế, chính sách “mua nội địa”, các chiến dịch công hay trợ cấp lương dưới nhiều hình thức. Khi một chính phủ cấp bão lãnh tài chính cho một nhà sản xuất xe hơi (Pháp) hoặc cho một ngân hàng (Australia), chính phủ đã ban một lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước so với đối thủ nước ngoài. Tất cả những chính sách này là được phép theo các hiệp định song phương hoặc đa phương và do đó câu hỏi đặt ra là: những chính sách này có bóp méo “sự công bằng trong thương mại” hay không?.

Hơn nữa, lợi thế so sánh chỉ đơn giản cho rằng nước X nên từ bỏ sản xuất một sản phẩm nếu nước Y có thể sản xuất nó rẻ hơn, nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu việc sản xuất rẻ hơn của nước Y là dựa trên sự lạm dụng lao động hoặc lạm dụng môi trường? Điều này làm các nước phát triển muốn nhìn rõ chuyện gì đang xảy ra “đằng sau biên giới” và như vậy một lần nữa câu hỏi “thương mại có công bằng” hay không lại được đặt ra.

Thương mại theo các điều khoản của FTA là có lợi nhưng lại bị bóp méo trên phương diện lợi thế so sánh. Các công ty giao dịch hàng hóa trên thị trường thế giới bị ảnh hưởng ngày càng lớn bởi các FTA trong hoạt động của mình, ví dụ như địa điểm đặt nhà máy để có thể hưởng lợi từ các FTA đã/sẽ được ký kết.
Sự chi phối của các FTA “đang đàm phán” so với các “nguyên tắc cơ bản” của WTO có thể cho thấy lợi thế nghiêng về các nước có sức mạnh chính trị và kinh tế. Những nước nhỏ hơn – các nước đang phát triển hoặc nước có quy mô dân số nhỏ có thể gặp bất lợi. Các hiệp định thương mại và thành viên tham gia một hiệp định nào đó cũng cho thấy cái nhìn của họ đối với thương mại ví dụ như EU và Mỹ đẩy mạnh khía cạnh “đằng sau biên giới” thông qua đàm phán các vấn đề về sở hữu trí tuệ, nhà đầu tư nước ngoài và việc hài hòa giữa lao động với các tiêu chuẩn môi trường, nhấn mạnh sự “công bằng” và “tự do” trong thương mại, trong khi những nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil quan tâm nhiều hơn đến việc sẽ loại bỏ ngành công nghiệp nào mà họ muốn bảo hộ và không muốn tập trung vào các vấn đề về bảo vệ người lao động, môi trường hoặc quyền sở hữu trí tuệ.

Theo http://www.hojudonga.com  - PC

Từ khóa: Hiệp định, thương mại, tự do (FTAs), công bằng

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008744770
Go to top