Là một quốc gia có quy mô dân số nhỏ, lợi ích từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Australia nhận được có thể ít hơn so với các nước lớn khác do yếu tố lợi thế theo quy mô, nhưng Australia cũng có lợi khi bán được các sản phẩm nông nghiệp hoặc sản phẩm khai khoáng với khối lượng lớn hơn. Kể từ thời chính quyền Thủ tướng Whitlam 1972 - 1975, Australia đã tích cực theo đuổi việc cắt giảm thuế quan và khi mức độ quan tâm đến cắt giảm thuế quan của thế giới thay đổi, Australia lại tiếp tục theo đuổi các FTA song phương lẫn đa phương.
Australia đã tham gia một số FTA với New Zealand, Singapore, Thái Lan, Mỹ, Chile, ASEAN, Malaysia, Nhật Bản và Hàn Quốc. Số liệu thương mại giữa Australia và 4 nước khác gồm Singapore, Thái Lan, Mỹ và Chile cho thấy trong các trường hợp này lợi ích mà Australia nhận được từ việc ký kết FTA là ít hơn so với đối tác.
Không thể phủ nhận vai trò của các FTA, nhưng một số vấn đề đang ảnh hưởng đến lợi ích của Australia:
Thứ nhất: các FTA gần đây có xu hướng cắt giảm ngay lập tức hàng rào thuế quan đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Australia trong khi khả năng tiếp cận thị trường của nông sản Australia lại bị trì hoãn đến cả thập kỷ. Ví dụ theo FTA giữa Australia và Nhật Bản, thịt bò Australia cần 18 năm mới có thể được loại bỏ thuế quan từ thị trường này.
Thứ hai, đối với các mặt hàng chế tạo, một thỏa thuận song phương thường sẽ cho phép việc thâm nhập ngay lập tức của hàng hóa Australia vào thị trường nước ngoài nhưng thực tế không phải vậy. Ví dụ, FTA giữa Australia và Thái Lan cho phép xe hơi do Thái Lan sản xuất có cơ hội lớn đển thâm nhập thị trường Australia nhưng Thái Lan lại ban hành thuế tiêu thụ đặc biệt để ngăn cản xe hơi Australia xuất khẩu sang Thái Lan. Việc thay thế một loại thuế tiêu thụ đặc biệt cho rào cản thuế quan là một sự nhạo báng đối với FTA mà 2 bên đã ký kết.
Thứ ba, Australia đã ngừng các chương trình hỗ trợ của chính phủ cho các ngành sản xuất (ví dụ như xe hơi), nhưng các nước đối tác FTA vẫn thực hiện hỗ trợ cho các công ty của nước họ (ví dụ, Mỹ hỗ trợ General Motors, Ford, Chrysler. Năm 2012 các hãng này nhận được hơn 4,7 tỷ USD từ 20 tiểu bang của Mỹ). Và trong khi các công ty Australia hoạt động mà không có sự trợ giúp từ chính phủ thì đối thủ của họ lại nhận được sự giúp đỡ không chính thức (ví dụ, hãng hàng không Quantas với hãng hàng không Eithad - Eithad nhận được khoản vay không lãi suất 3 tỷ USD từ gia đình hoàng gia Abu Dhabi).
Thứ tư, trong khi Australia có thể là nước có mức độ mở cửa cho xe hơi nhập khẩu lớn nhất thế giới thì một số quốc gia mặc dù có mức thuế nhập khẩu xe hơi thấp hoặc bằng 0 nhưng lại sử dụng các rào cản phi thuế quan phức tạp khác để ngăn chặn nhập khẩu. Ví dụ, yêu cầu kỹ thuật của Nhật Bản đối với xe hơi nhập khẩu là hết sức khắc nghiệt. Thêm vào đó, các đối tác FTA của Australia cũng đưa ra một loạt các biện pháp để khuyến khích người tiêu dùng sử dụng xe hơi được sản xuất trong nước (ví dụ cơ chế người mua xe hơi đầu tiên của Thái Lan hay chính sách miễn giảm thuế thu nhập của Malaysia).
Thứ năm, việc Australia giới hạn số tiền đầu tư ra nước ngoài nhằm tránh sự giám sát theo FIRB đồng nghĩa với việc các công ty Australia có thể bị bất lợi trong canh tranh (trường hợp FTA với Trung Quốc).
Thứ sáu, khi Australia cho phép sử dụng “cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và chính quyền” (ISDS) trong các FTA (ví dụ FTA với Hàn Quốc), nghĩa là cho phép các công ty nước ngoài quyền được kiện chính phủ Australia nếu họ cho rằng họ bị giới hạn khả năng thâm nhập thị trường Australia. Điều này có thể ảnh hưởng đến chính sách y tế và phúc lợi của Australia. Một tập đoàn của Mỹ đã sử dụng Hiệp ước đầu tư Australia-Hong Kong để kiện chính phủ Australia về luật thuốc lá. Sau khi thất bại tại Tòa tối cao của Australia, tập đoàn này tiếp tục đưa Australia ra tòa án trọng tài quốc tế - như vậy theo ISDS tất cả mọi điều đều có thể xảy ra.

Những khiếm khuyết trong các FTA là những vấn đề lớn. Nếu về mặt lợi ích Australia chưa nhận được những gì tương xứng thì dưới góc độ chi phí mọi thứ sẽ rõ ràng hơn: áp lực công việc lớn hơn từ toàn cầu hóa, áp lực cho các công ty Australia cũng trở nên lớn hơn do việc cạnh tranh không công bằng, việc bảo vệ bằng sáng chế tước đi cơ hội dược phẩm được bán với giá rẻ, quy mô lớn hơn của các tập đoàn đa quốc gia sẽ là thách thức đối với cấu trúc xã hội và chính sách trong vấn đề sức khỏe, an toàn lao động, lương công nhân, quy chế tài chính và quy định về môi trường.
Các FTA là tốt, nhưng các FTA ngày càng ít tập trung vào tự do thương mại mà tập trung nhiều hơn vào tăng cường sức mạnh cho các tập đoàn lớn hơn là vì người Australia và chủ quyền của Australia. Có vẻ như các FTA đang mang lại nhiều sự tự do thương mại hơn cho các đối tác của Australia và ngày càng bóp méo thương mại Australia. Điều này không phải là tự do và không công bằng.
Theo http://www.hojudonga.com - PC
Từ khóa: FTA, Australia, toàn cầu hóa, xe hơi, nhập khẩu, sản phẩm, khai khoáng
Các tin khác
- Các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) có thể là tự do nhưng liệu có công bằng? - 16/06/2014
- Thay vì theo đuổi TPP, Trung Quốc cần đưa ra sự lựa chọn khác cho các nước châu Á – Thái Bình Dương - 11/06/2014
- EU trước vấn đề giải quyết các rào cản từ phía Trung Quốc và Nhật Bản - 10/06/2014
- Chiến lược kinh tế của châu Á bên ngoài các thỏa thuận thương mại tự do - 10/06/2014
- Các chuyên gia chỉ trích thời hạn ký Hiệp định EAC-EU EPA - 10/06/2014






















