
Thời kỳ mở cửa thị trưởng và mở cửa biên giới đã kết thúc, hồi kết của nó càng bị đẩy nhanh bởi những vấn đề như khủng hoảng khi hậu, chủ nghĩa dân túy, và bây giờ virus corona.
Trong 30 năm qua, Trung Quốc đã trở thành công xưởng của toàn thế giới. Và trong vài tuần qua, các dây chuyền sản xuất đã phải đóng cửa do sự lây lan của virus corona. Bắc Kinh lo sợ đợt bùng phát dịch bệnh này sẽ gây ra những tác động ngắn hạn và dài hạn cho đất nước. Trung Quốc đang chuẩn bị ghi nhận mức tăng trưởng âm của quý I – lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ. Đầu tuần này, Zhang Xiangchen, đại sứ của Trung Quốc tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã lên tiếng kêu gọi các nước không sử dụng virus corona làm lý do để dựng lên các rào cản thương mại.
Quả thực ông Zhang cần phải lên tiếng về vấn đề này. Trung Quốc lo ngại rằng một làn sóng chủ nghĩa bảo hộ sẽ bùng lên - và điều đó gần như chính xác, vì nhiều năm qua, một số nước trên thế giới đang tìm kiếm bất kỳ lý do nào có thể để được quay lại với chủ nghĩa bảo hộ. Quan trọng hơn, những rào cản này không chỉ áp dụng cho dòng chảy hàng hóa. Đầu tháng này, Bộ Ngân khố Mỹ đã tuyên bố hạn chế tiếp nhận nguồn đầu tư nước ngoài vào các dự án công nghệ, dữ liệu, và cơ sở hạ tầng quan trọng, để đảm bảo an ninh quốc gia. Kế hoạch xây tường giữa biên giới Mỹ-Mexico của Tổng thống Donald Trump là dấu hiệu tiêu biểu về xu hướng kiểm soát nhập cư chặc chẽ hơn. Một thời đại của thị trường tự do và mở cửa biên giới – nơi mà các dòng chảy thương mại và vốn đầu tư xuyên quốc gia tăng trưởng nhanh chóng, cùng với sản lượng sản xuất toàn cầu tăng cao – đã đi đến hồi kết. Những nhân tố tạo nên làn sóng phản toàn cầu hóa đang dần định hình.
Ngày nay, các chính phủ thường ít sẵn lòng xóa bỏ những rào cản và quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ việc làm trong nước, ngăn chặn tình trạng trộm cắp tài sản trí tuệ và các mối nguy an ninh mạng. Giới doanh nghiệp nhận ra rằng việc các chuỗi cung ứng toàn cầu khổng lồ được thiết kế nhằm tận dụng lợi thế tiền lương thấp của các nước đang phát triển vừa có những mặt tích cực lẫn tiêu cực. Virus corona đang làm dấy lên sự hoang mang, và có khả năng thúc đẩy sâu hơn quá trình đưa hoạt động sản xuất trở về nội địa, vốn đã được đẩy ra khỏi các nước phát triển từ những năm 1990 và 2000.
Quá trình đảo ngược toàn cầu hóa này (deglobalisation) đã từng diễn ra trước đây, nổi bật là trong giai đoạn 1914 đến 1945. Nó hiện đang diễn ra như một hệ quả của các tác động địa chính trị, bất ổn kinh tế, gia tăng bất bình đẳng, sự thất bại trong việc xây dựng một cấu trúc chính trị mới để quản lý toàn cầu hóa, và những mối đe dọa khác.
Trong mỗi làn sóng toàn cầu hóa thường có một người lãnh đạo đi đầu, một siêu cường quốc đủ tự tin để truyền bá tư tưởng về tự do thương mại và mở cửa thị trường. Vai trò này từng thuộc về nước Anh vào cuối thế kỷ 19, và nước Mỹ trong nữa sau thế kỷ 20.
Tuy nhiên, sự tự tin của Mỹ đã sụt giảm do sự nổi lên của Trung Quốc, và tình trạng tranh chấp quyền lực giữa hai nền kinh tế hàng đầu thế giới đang ngày càng nóng hơn. Thị trường chứng khoán đã khởi sắc khi Washington và Bắc Kinh ký một thỏa thuận thương mại, tuy nhiên – tương tự như hiệp ước Molotov-Ribbentrop tháng 8/1939 – nó chỉ đơn thuần là một thỏa thuận đình chiến tạm thời. Nếu Trump tái đắc cử vào tháng 11, thái độ thù địch sẽ trở lại.
Các nước cũng càng trở nên thu mình vào những thời điểm khó khăn, và họ đã như vậy kể từ sau cuộc khủng hoàng tài chính 2008 đến nay. Làn sóng mở cửa gần nhất từng diễn ra là từ sau sự sụp đổ của Liên Xô, và lên đến đỉnh điểm khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO vào năm 2001. Đây là thời kỳ mà tăng trưởng diễn ra mạnh mẽ, một phần là do quá trình toàn cầu hóa khiến hàng nhập khẩu giá rẻ nở rộ, giúp kiềm chế tỷ lệ lạm phát và cho phép các ngân hàng trung ương phương Tây giữ lãi xuất ở mức thấp và chứng khoán ở mức cao.
Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính đã làm lộ ra những nhược điểm của một hệ thống quản lý toàn cầu không được giám sát đầy đủ và hiệu quả. Hệ quả suy thoái trở nên nghiêm trọng và quá trình hồi phục trì trệ kéo dài. Và dĩ nhiên, các nước ngày càng trở nên cẩn trọng hơn.
Xu hướng này càng mạnh mẽ hơn do những lợi ích từ toàn cầu hóa không đến được tất cả mọi người – mà chỉ rơi vào tay chủ sở hữu vốn và tầng lớp giàu có. Người tiêu dùng được lợi từ giá cả hàng hóa thấp, nhưng tình trạng bất bình đẳng gia tăng còn mạnh mẽ hơn ở bất kỳ đâu trên thế giới. Trong các nền dân chủ, người ta sẽ không thể chịu đựng được lâu khi giới nhà giàu ngày càng giàu hơn còn chất lượng cuộc sống của số đông gần như không thay đổi.
Có một niềm tin – luôn mơ hồ - rằng một thể chế chính trị quốc tế sẽ được thành lập để bắt kịp với xu hướng quốc tế hóa của nền kinh tế. Ý tưởng này cho rằng, nếu dòng chảy vốn được quản lý hiệu quả ở cấp độ toàn cầu, thì cơ chế dân chủ cũng có thể phát triển. Và điều này đã không hề xảy ra.
Một thể chế đa phương, ra đời cách đây 3 thập kỷ để quản lý quá trình toàn cầu hóa – chính là WTO – đang rơi vào tình trạng khủng hoảng. WTO có hai chức năng chính: tạo ra một diễn đàn để đàm phán các thỏa thuận thương mại toàn diện, và cung cấp một tòa án để giải quyết tranh chấp thương mại giữa các quốc gia. Và hiện tại tổ chức này không thực hiện được chức năng nào cả.
Sự thất bại trong việc thiết lập một cơ chế chính trị liên quốc gia để kiểm soát toàn cầu hóa đã khiến cử tri phản ứng bằng cách yêu cầu quay ngược về cấp độ quản lý mà họ có tiếng nói: cấp độ quốc gia. Ý tưởng giành lại quyền tự quyết cho quốc gia là một chất xúc tác mạnh mẽ đối với những người theo chủ nghĩa dân túy cánh hữu như Trump hay dân túy cánh tả như Bernie Sanders. Cả hai nhân vật này đều không hề ưu ái WTO.
Tình trạng trái đất nóng dần lên rõ ràng cũng càng kích thích áp lực đảo ngược toàn cầu hóa. Những mối đe dọa hiện tại bắt nguồn từ tình trạng biến đổi khí hậu đang buộc các chính phủ, doanh nghiệp, và người tiêu dùng phải đặt câu hỏi về cách thức mà nền kinh tế toàn cầu đang vận hành. Họ tự hỏi liệu việc vận chuyển phụ tùng xe hơi qua lại giữa nhiều nước để lắp ráp là hợp lý? Liệu có nên đầu tư thêm vào các công ty khai thác dầu khí? Liệu có nên vận chuyển hàng tấn trái cây và rau củ bằng máy bay nữa vòng trái đất, hay tự trồng chúng ở địa phương là tốt hơn? Và cơ bản nhất, liệu có những thứ còn quan trọng hơn cả tăng trưởng kinh tế?
Toàn cầu hóa từng được quảng bá là cách thức để thúc đẩy sự thịnh vượng cho tất cả mọi người, bằng cách khiến các thị trường mở rộng hơn và hiệu quả hơn. Trong một thời kỳ dài, mô hình này đã vận hành hiệu quả, nhưng nó bùng nổ và gây ra những tác hại liên đới sâu rộng, và một làn sóng chóng lại nó là không thể tránh khỏi. Quá trình đảo ngược toàn cầu hóa là kết quả tất yếu.
Tác giả: Larry Elliott – Biên tập viên kinh tế của tờ Guardian
Nguồn: The Guardian
Từ khóa: Toàn cầu hóa, chủ nghĩa bảo hộ, hiệp định thương mại Mỹ-Trung, khủng hoảng kinh tế
Các tin khác
- Hiệp định thương mại Mỹ - Trung giai đoạn một và Việt Nam - 19/02/2020
- Bình luận: Tại sao Trung Quốc đồng ý ký một thỏa thuận thương mại bất bình đẳng với Mỹ - 19/02/2020
- Liệu Brexit sẽ thúc đẩy Vương quốc Anh gần gũi hơn với châu Á? - 19/02/2020
- EVFTA: Doanh nghiệp châu Âu và các bước đi nhập cuộc - 18/02/2020
- Tác động của dịch Covid - 19 đối với nền kinh tế: Trong thách thức có cơ hội - 18/02/2020






















