
Ông Bert Hofman- nhà kinh tế học thuộc Ngân hàng Thế giới tại văn phòng ở Bắc Kinh cho biết: Thỏa thuận thương mại Giai đoạn 1 giữa Mỹ và Trung Quốc đặt ra những yêu cầu lớn đối với Trung Quốc nhưng vẫn không xóa bỏ nhiều mức thuế quan đang áp đặt, và sẽ gặp khó khăn trong việc thực thi giữa bối cảnh bùng phát dịch corona.
Tại Hội nghị thường niên 2020 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos, Tổng thống Donald Trump đã phát biểu: “Nước Mỹ đang chiến thắng hơn bao giờ hết”. Để minh họa, ông đã dẫn ra thỏa thuận thương mại với Trung Quốc ký ngày 15/01/2020 như một ví dụ sống động cho chiến tích này.
Trong bài phát biểu tại Liên bang vào ngày 5/2, ông Trump đã đề cập thỏa thuận thương mại này là một chiến thắng trước việc các doanh nghiệp Trung Quốc lấy mất nhiều việc làm của người Mỹ.
Khi các thỏa thuận được đưa vào thực thi, hiệp định này cho thấy tính một chiều đáng kể, trong đó Trung Quốc phải thực hiện phần lớn các cam kết.
Thỏa thuận gồm tổng cộng 105 cam kết từ Trung Quốc (“Trung Quốc sẽ thực hiện”), so với 88 cam kết chung (“Các bên liên quan sẽ cùng thực hiện”) và chỉ 5 cam kết từ Mỹ (“Mỹ sẽ thực hiện”).
Trong phần lớn các điều khoản, Hoa Kỳ chỉ đơn giản “khẳng định” rằng chính sách hiện tại của nước này đã đáp ứng các yêu cầu của thỏa thuận trên.
Trung Quốc đã tính toán các lợi ích cho mình
Vậy tại sao Trung Quốc lại ký vào hiệp định? Thứ nhất, hiệp định yêu cầu Trung Quốc phải thực thi những cải cách vốn đã đang diễn ra tại nước này, liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (IP), chuyển giao công nghệ và lĩnh vực tài chính.
Các yêu cầu cải cách thực chất đã được thực hiện, song việc đưa những điều khoản này vào một hiệp định với Mỹ có thể đẩy nhanh quá trình thực thi hơn tại Trung Quốc.
Những thay đổi này mang lại lợi ích dài hạn cho Trung Quốc. Chúng sẽ cải thiện môi trường kinh doanh của Trung Quốc, biến nước này thành một nơi hấp dẫn hơn để đầu tư vào công nghệ mới, và theo thời gian, sẽ cải thiện hiệu quả của các khoản đầu tư do một lĩnh vực tài chính đa dạng hơn thực hiện.
Thứ hai, thỏa thuận có thể dẫn đến một số bất ổn chính sách tĩnh và nhỏ, hỗ trợ sự tăng trưởng của Trung Quốc tại thời điểm khi mà chương trình cải cách trong nước có thể làm chậm tốc độ tăng trưởng.
Thật vậy, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) gần đây đã tăng mức dự báo tăng trưởng của Trung Quốc thêm 0.2% cho năm 2020 trước khi bùng phát dịch viêm phổi corona, chủ yếu dựa trên việc giảm sự bất ổn nhờ thỏa thuận thương mại này.
Bản thân thỏa thuận cũng tạo tiền đề cho các cuộc đàm phán tiếp theo, và Tổng thống Trump dường như muốn bắt đầu đàm phán Giai đoạn 2 ngay lập tức. Chính quyền ông Trump cũng đang chuyển sự chú ý sang các nước khác, gồm EU và Vương quốc Anh.
Lời giải thích thứ ba cho việc sẵn sàng ký kết thỏa thuận này của Trung Quốc là vì nước này cần thỏa thuận thương mại này để tranh thủ thêm thời gian. Trong hai năm chiến tranh thương mại, Trung Quốc đã nhận ra rằng mục đích cuối cùng của Hoa Kỳ là chia rẽ, ngăn chặn và kéo tốc độ phát triển của Trung Quốc xuống.
Tranh chấp thương mại đã tiết lộ sự phụ thuộc của Trung Quốc vào Hoa Kỳ đối với công nghệ nền tảng và nước này cần thêm thời gian để chuẩn bị cho một cuộc đối đầu không thể tránh khỏi trong tương lai.
Một thỏa thuận thương mại không cân bằng
Bất luận lời giải thích nào là đúng, bản chất không cân bằng của thỏa thuận này đang thu hút sự chú ý. Các cam kết mà Trung Quốc đã đưa ra về mặt cải cách cơ cấu không hề tương xứng với những nhượng bộ từ phía Hoa Kỳ.
Thứ nhất, thỏa thuận không đề cập đến các mức thuế đã áp cho đến nay chủ yếu: Chỉ có mức thuế quan 15% đối với 150 tỷ USD hàng nhập khẩu của Trung Quốc áp vào tháng 9/2019 là được giảm xuống còn 7.5%, một bước lùi khá nhỏ hướng đến bình thương hóa quan hệ.
Ngoài ra, kế hoạch áp thuế quan áp lên 180 tỷ USD hàng nhập khẩu khác từ Trung Quốc, được Mỹ công bố vào giữa tháng 12/2019, đã bị hoãn lại.
Thứ hai, thỏa thuận vẫn giữ nguyên các biện pháp khác mà Hoa Kỳ gần đây áp đặt đối với Trung Quốc.
Chúng bao gồm: “Danh sách các thực thể” - trong đó có Huawei và 28 công ty khác – chịu lệnh trừng phạt vạ lây từ cuộc chiến thương mại, Ủy ban Đầu tư nước ngoài cũng ra quy định cắt giảm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc vào Mỹ, và đặt ra các hạn chế xuất khẩu vì các lý do an ninh quốc gia - điều mà các công ty Trung Quốc phải đối mặt ngày càng nhiều.
Thứ ba, Trung Quốc đơn phương chấp thuận một số Tiêu chuẩn An toàn thực phẩm của Mỹ trong thỏa thuận. Sự công nhận lẫn nhau về các tiêu chuẩn là phổ biến trong các thỏa thuận thương mại và liên minh hải quan như EU, tuy nhiên sự công nhận từ một phía là rất hiếm.
Trong trường hợp này, Trung Quốc dường như muốn tránh việc chậm trễ thực thi yêu cầu tăng mua nông sản từ Mỹ, điều mà trước đây thường vướng phải các rào cản do bộ máy quan liêu về vấn đề an toàn thực phẩm của Trung Quốc gây ra.
Một “chiến thắng” khiêm tốn nhất dành cho Trung Quốc là việc Mỹ loại Trung Quốc khỏi Danh sách thao túng tiền tệ của Kho bạc Mỹ. Động thái đưa Trung Quốc vào danh sách đó cuối tháng 8 năm ngoái đã khiến nhiều người ngạc nhiên, vì Trung Quốc từ lâu đã từ bỏ chính sách can thiệp để giữ đồng nhân dân tệ thấp giá.
Thay vào đó, kể từ khi bắt đầu cuộc chiến thương mại với Mỹ, Trung Quốc đã can thiệp để giữ đồng nhân dân tệ mạnh. Dù bất kể lý do nào, việc bị chỉ định là nước thao túng tiền tệ phần lớn chỉ là hình thức, vì vậy việc bãi bỏ chỉ định này cũng không ảnh hưởng gì mấy.
Những hậu quả của một nền thương mại phi tự do
Trung Quốc đã đồng ý mua thêm 200 tỷ USD hàng hóa Mỹ trong hai năm tới. Điều kỳ lạ là, đây không phải là một con số được thêm vào tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 2.2 nghìn tỷ USD của Trung Quốc trong năm 2017- “năm cơ sở”. Cũng không phải 200 tỷ USD bổ sung vào tổng nhập khẩu năm 2017 của Trung Quốc từ Hoa Kỳ là 180 tỷ USD.
Việc tăng nhập khẩu chỉ được gán là một tập hợp con của hàng hóa và dịch vụ cụ thể từ Hoa Kỳ, lên tới 130 tỷ USD trong năm 2017.
Định nghĩa hẹp này về số lượng nhập khẩu – chủ yếu là hàng hóa sản xuất, năng lượng, nông sản và dịch vụ - khiến Trung Quốc khó đạt được các mục tiêu hơn, và có thể phản ánh sự vận động hành lang bởi các nhóm lợi ích đặc biệt của Hoa Kỳ.
Cam kết nhập khẩu của Trung Quốc sẽảnh hưởng đến hàng xuất khẩu của các nước khác sang Trung Quốc. Cụ thể, Brazil, Nga, Canada và Úc có khả năng mất các đơn hàng xuất khẩu. Trong sản xuất, châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ bị tác động mạnh.
Ủy viên Thương mại EU, ông Phil Rogan bày tỏ quan ngại về thỏa thuận và hậu quả đối với hàng xuất khẩu của EU vào Trung Quốc.
Châu Âu và các nước khác cũng sẽ tiếp tục đối mặt các áp lực bổ sung từ hàng xuất khẩu Trung Quốc, vốn được chuyển hướng sang các thị trường này do mức thuế quan cao của hàng xuất khẩu Trung Quốc khi vào Mỹ.
Thỏa thuận thương mại Giai đoạn 1 Mỹ- Trung rõ ràng không đáp ứng các điều kiện của WTO. Mặc dù, thỏa thuận quy định rằng “việc mua hàng sẽ được thực hiện theo giá thị trường dựa trên các cân nhắc thương mại”, Điều 6.2 của thỏa thuận Giai đoạn 1 Mỹ- Trung cho thấy rất rõ ràng rằng việc mở rộng nhập khẩu của Trung Quốc sẽ chỉ dành cho hàng xuất khẩu Hoa Kỳ.
Điều này vi phạm quy tắc cơ bản nhất của WTO về “Đối xử Tối huệ quốc”, hoặc MFN. MFN có nghĩa là các thành viên nên đối xử như nhau với tất cả các thành viên khác theo các điều khoản có lợi nhất.
Các ngoại lệ có thể được thực hiện cho một hiệp định thương mại tự do giữa các nước, nếu hiệp định có phạm vi rộng, như bao gồm phần lớn thương mại trong hàng hóa và dịch vụ.
Mở rộng nhập khẩu tự nguyện (VIE), là thỏa thuận mua hàng được đề cập trong tài liệu thương mại, có thể không tương thích với WTO, nhưng chỉ khi cam kết là chung và không giới hạn hàng nhập khẩu từ một quốc gia cụ thể.
Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo
Kết quả tổng quan xuất phát từ thỏa thuận này có thể là Trung Quốc sẽ tạo ra một môi trường tốt hơn cho các ngành công nghiệp phụ thuộc vào công nghệ và IP, và thúc đẩy đầu tư tương lai.
Ngược lại, Mỹ có thể bán nhiều hàng hóa hơn cho Trung Quốc, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp và năng lượng. Thâm hụt thương mại song phương của Mỹ với Trung Quốc có thể sẽ giảm do dam kết của Trung Quốctrong tăng mua hàng hóa Mỹ và những ảnh hưởng tiếp tục của thuế quan áp lên hàng xuất khẩu Trung Quốc.
Tuy nhiên, nhìn chung, thâm hụt thương mại Mỹ sẽ không giảm vì thỏa thuận này. Thâm hụt thương mại là dựa trên các chính sách kinh tế vĩ mô, không phải bằng các chính sách thương mại.
Tất cả các dấu hiệu cho thấy Mỹ đã và đang thâm hụt thương mại kể từ năm 1974, sẽ tiếp tục chính sách tài khóa và tiền tệ lỏng lẻo – điều mà gây nên những thâm hụt này.
Ngoài ra, chiến tranh thuế quan dường như không đạt được điều mà Mỹ mong muốn: Tái tạo ngành sản xuất tại Hoa Kỳ.
Một bài nghiên cứu do Ủy ban Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ FRB (Fed được điều hành bởi các FRB) phát hiện rằng các ngành công nghiệp sản xuất của Mỹ tiếp xúc nhiều hơn với thuế quan làm tăng kinh nghiệm tương đối trên mức độ giảm trong số lượng việc làm vì tác động tích cực củaviệc bảo hộ nhập khẩu được bù đắp bởi những tác động tiêu cực lớn hơn từ việc gia tăng chi phí đầu vào và thuế quan trả đũa.
Giai đoạn đàm phán tiếp theo sẽ phải giải quyết chính sách công nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước và trợ cấp- những vấn đề gây tranh cãi cao không được đưa vào thỏa thuận Giai đoạn 1.
Một bản xem trước về những gì Mỹ mong đợi Trung Quốc đồng ý có thể được tìm thấy trong Tuyên bố chung ngày 14/01 của Hội nghị ba bên Bộ trưởng Thương mại Nhật Bản, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu. Điều này thẳng thừng khẳng định các chính sách của WTO về trợ cấp đã thất bại, cơ quan phúc thẩm của Tổ chức này đã quá khoan dung đối với vấn đề trợ cấp và các thực thể nhà nước trong quá khứ và cả hai việc trên đều cần thay đổi.
Mặc dù Trung Quốc không được đề cập, mục tiêu chính rõ ràng là hướng đến việc thay đổi WTO và chúng ta có thể mong đợi nhiều bất ngờ hơn từ các cuộc đàm phán Giai đoạn 2.
Sự bùng phát dịch hô hấp COVID-19 chủng mới có thể trì hoãn việc thực hiện thỏa thuận của Trung Quốc. Nước này đã dừng thực hiện thỏa thuận ngay sau khi dịch bệnh lan rộng.
Thỏa thuận cho phép hội đàm ý kiến sau khi trì hoãn do “thảm họa tự nhiên hoặc sự kiện có thể thấy trước khác”. Tuy nhiên, Bộ trưởng thương mại Hoa Kỳ, Wilbur Ross và Giám đốc Hội đồng kinh tế quốc gia Hoa Kỳ, Larry Kudlow đã đưa ra các thông điệp mâu thuẫn về phản ứng của Mỹ đối với bất kỳ việc trì hoãn thực thi nào của Trung Quốc do dịch bệnh gây ra.
Hy vọng điều này sẽ không ảnh hưởng đếnthỏa thuận ở giai đoạn đầu như vậy.
*Bert Hofman là Giám đốc của Viện Đông Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore.
Nguồn: CNA/el
Từ khóa: thỏa thuận Giai đoạn 1 Mỹ- Trung, bất bình đẳng, lợi ích, Trung Quốc
Các tin khác
- Liệu Brexit sẽ thúc đẩy Vương quốc Anh gần gũi hơn với châu Á? - 19/02/2020
- EVFTA: Doanh nghiệp châu Âu và các bước đi nhập cuộc - 18/02/2020
- Tác động của dịch Covid - 19 đối với nền kinh tế: Trong thách thức có cơ hội - 18/02/2020
- EVFTA, EVIPA và cơ chế giải quyết tranh chấp - 18/02/2020
- Vương quốc Anh và Tổ chức WTO hậu Brexit - 17/02/2020






















