
Tác giả: Andrew Sheng
Tháng trước, Malaysia đã kỷ niệm 62 năm độc lập, với người đứng đầu là vị Thủ tướng Tun Dr. Mahathir Mohamad dù đã 94 tuổi nhưng rất am hiểu về kỹ thuật số.
Singapore cũng kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 54 của mình bằng bài phát biểu của vị thủ tướng nói được 3 thứ tiếng Malay, Quan Thoại và tiếng Anh - Lí Hiển Long - về cách mà Singapore đang chuẩn bị ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tại lễ kỷ niệm 74 năm độc lập, Tổng thống Indonesia Jokowi đã công bố kế hoạch chuyển thủ đô từ Jakarta đến Borneo đầy tham vọng.
Lướt qua một lượt các sự kiện của ASEAN, tôi nhận ra rằng khu vực này đã nghĩ đến và có sự chuẩn bị cho tương lai, bất kể phần còn lại của thế giới vẫn đang hỗn loạn.
Lý do cực kỳ dễ hiểu.
Với dân số 600 triệu người và mức GDP hơn 2,5 nghìn tỷ đô la, các nền kinh tế Asean vẫn được đánh giá là một trong những khu vực phát triển nhanh nhất và trẻ nhất trên thế giới.
Từ những năm 1960, thành công mà ASEAN đạt được dựa trên thương mại, hòa bình và ổn định khu vực, tức là các yếu tố được xây dựng dựa trên mục tiêu tăng trưởng kinh tế hơn là chính trị. Còn trong tương lai, thành công của khu vực này có lẽ phụ thuộc vào tính trung lập trên chính trường thế giới, bất chấp nỗ lực lôi kéo của các cường quốc.
Tại Hà Nội, tôi đã cực kỳ ấn tượng bởi cách mà Việt Nam lập kế hoạch cho một nền kinh tế số giai đoạn 2030-2045.
Với dân số xấp xỉ 100 triệu dân và chạm mức tăng trưởng GDP 7,1% trong năm 2018, Việt Nam trở thành đất nước hưởng lợi lớn từ việc Trung Quốc giảm cơ cấu các ngành công nghiệp giá trị thấp và từ việc đa dạng hóa trong chuỗi cung ứng toàn cầu ở châu Á.
Theo một nghiên cứu của DBS, Việt Nam đã cán mốc thu nhập trung bình của Ngân hàng Thế giới và nếu tiếp tục tiến theo quỹ đạo hiện tại thì nước này sẽ vượt qua nền kinh tế Singapore vào năm 2029.
Để duy trì đà tăng trưởng và tạo thêm cơ hội việc làm cho lực lượng thanh niên trẻ, Việt Nam đã dự báo 4 kịch bản cho tương lai của nền kinh tế số, trong đó, chính Việt Nam có thể là người mua hoặc bán các sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật số liên quan.
Kịch bản thứ nhất là kịch bản kế thừa truyền thống, tức Việt Nam sẽ sử dụng các động cơ tăng trưởng truyền thống. Trong kịch bản này, tốc độ chuyển đổi số và tốc độ tăng trưởng chậm, gần như là tối thiểu.
Kịch bản thứ hai là Xuất khẩu số: Việt Nam sẽ khuyến khích các công ty nước ngoài xây dựng nhà máy xuất khẩu và sử dụng chính lực lượng lao động tại chỗ, dự báo cho thấy hướng đi này sẽ mang lại một số cải thiện đáng kể, nhưng cũng chỉ đạt tới lợi ích cận biên.
Kịch bản thứ ba về Tiêu dùng số: Việt Nam sẽ thúc đẩy và tạo ra một thị trường tiêu dùng lớn, nhưng khi đó, số công việc hiện có sẽ phải mở rộng ra và tăng lên ít nhất 1/3 so với hai kịch bản đầu.
Kịch bản thứ tư là Chuyển Đổi Số, trên tất cả các ngành công nghiệp và dịch vụ công. Với kịch bản này, dự báo GDP của Việt Nam sẽ tăng trưởng 1.1% mỗi năm, tuy nhiên, 38,1% số lượng việc làm hiện tại sẽ có nguy cơ phải chuyển đổi hoặc gián đoạn.
Về bản chất, Việt Nam vẫn nhận ra rằng các ngành công nghiệp trong nước có thể bị thâu tóm nếu phụ thuộc vào khu vực nước ngoài, do đó, mọi thành phần trong nước đều phải chuyển đổi số hoàn toàn để hòa nhịp cùng nền kỹ thuật số tiên tiến của thế giới.
Từ những kịch bản này, lộ trình ưu tiên được xác định bao gồm các yếu tố liên quan tới cơ sở hạ tầng, an ninh mạng, chất lượng và kỹ năng của nguồn nhân lực, hiện đại hóa chính phủ, kế hoạch đổi mới quốc gia và công nghiệp 4.0, cải cách pháp luật, đặc biệt là về lĩnh vực thuế.
Còn nhớ, khi đến Jakarta để tham dự một hội nghị về tài chính kỹ thuật số, tôi đã phát hiện ra rằng dịch vụ giao thông tại sân bay đã được cải thiện đáng kể. Trong khi đó, các vấn đề liên quan tới chuyển đổi số, công bằng xã hội và biến đổi khí hậu đều được đánh giá là những chủ đề quan trọng cho tương lai của Indonesia.
Indonesia sẽ tiêu tốn 33 tỷ đô la trong 10 năm để xây dựng thủ đô mới ở Kalimantan nếu rời khỏi Jakarta - một trong những tập đoàn đô thị đông đúc nhất thế giới.
Ngoài ra, 40 tỷ đô la khác sẽ được chi cho việc cải cách toàn bộ Jakarta khi thành phố này sẽ bị nhấn chìm khoảng 2/5 diện tích do nước biển dâng và áp lực quỹ đất khan hiếm.
Indonesia đang chuyển đổi số với tốc độ nhanh. Điều này thể hiện ở tốc độ tăng trưởng người dùng Internet của nước này hiện gấp ba lần so với mức trung bình toàn cầu. Tổng số người dùng internet của Indonesia là 150 triệu người, chiếm khoảng 56% tổng dân số 268 triệu người của nước này.
Chính Tổng thống Jokowi cũng đã phát biểu rằng: “Dữ liệu hiện được coi là một loại tài sản mới của quốc gia, và có thể nói còn có giá trị hơn cả dầu mỏ.”
Rõ ràng, Indonesia là một trong những thị trường lớn nhất của Google, Facebook, Youtube và WhatsApp; như vậy, chìa khóa cho sự phát triển trong tương lai sẽ quyền tiếp cận dữ liệu.
Câu hỏi đặt ra là: Các công ty, chính phủ, và doanh nghiệp khởi nghiệp của Indonesia đã tiếp cận dữ liệu đủ để cạnh tranh bình đẳng với những công ty đa quốc gia có thừa tiền để mua những dữ liệu này không?
Giả sử, mỗi cá nhân cung cấp dữ liệu riêng tư của mình cho các công ty nền tảng, sau đó những công ty này bán chúng để “hưởng lợi riêng”, thì khi nào dữ liệu trở thành hàng hóa chung dùng cho tăng trưởng của quốc gia?
Thực ra, tôi khá lạc quan về tình hình chuyển đổi số của các nền kinh tế ASEAN. Điển hình là trong bảng xếp hạng Chỉ số đổi mới toàn cầu 2019, Thụy Sĩ giữ vị trí số 1, Hoa Kỳ xếp thứ 3, Singapore thứ 8, trong khi Hồng Kông, Trung Quốc và Nhật Bản lần lượt là 13, 14 và 15. Còn các nước ASEAN được xếp hạng như sau: Malaysia (35), Việt Nam (42), Thái Lan (43) và Philippines (54) đứng sau Latvia (34) và gần Ấn Độ (52).
Về cơ bản, những chỉ số nêu trên có vẻ tương tự cách đánh giá trong những bài kiểm tra IQ nổi tiếng lấy khu vực châu Âu làm chuẩn. Trong không gian kỹ thuật số, sự đổi mới và khả năng nắm bắt thị trường là hai yếu tố quan trọng, dựa trên khung đánh giá: Tốc độ - Tỉ lệ - Phạm vi.
Lợi thế của Trung Quốc khi cạnh tranh cùng Hoa Kỳ là nhờ vào quy mô của thị trường nội địa với 800 triệu người dùng Internet, cơ sở hạ tầng băng thông rộng tốc độ cao và phạm vi dịch vụ kết hợp nhiều lĩnh vực (Alibaba và WeChat).
Rõ ràng, trong khối ASEAN, Indonesia, Việt Nam và Philippines chỉ có quy mô dân số khoảng 100 triệu người.
Lợi thế thực sự của ASEAN là nhờ cơ cấu dân số trẻ, hiểu biết về kỹ thuật số, nằm ở phân khúc thu nhập trung bình và cao. Hồng Kông và Singapore được xếp hạng cao là nhờ điểm cao hơn ở các chỉ số như tổ chức/thể chế (Institutions), cơ sở hạ tầng (Infrastructure) và độ chín của thị trường (Market sophistication), ngang bằng đẳng cấp của các thành phố lớn trên thế giới.
Tuy nhiên, Singapore chỉ đứng thứ 34 về chỉ số Kết quả sáng tạo (Creative outputs)và Hồng Kông đứng thứ 33 về chỉ số Thành quả tri thức và công nghệ (Knowledge and Technology outputs).
Như vậy, rõ ràng ASEAN sẽ trở thành khu vực kỹ thuật số tiên tiến trong tương lai khi hội tụ đủ các yếu tố: dân số trẻ, đa dạng văn hóa, khả năng tiếp cận kiến thức mới và vị trí địa lý chiến lược.
Trong bối cảnh hiện nay, chẳng nền kinh tế nào có thể tự mãn với thành tựu hiện có. Ngay cả Hồng Kông, đất nước được đánh giá là quốc gia số 1 về tự do kinh tế, vẫn rơi vào vòng xoáy của các cuộc biểu tình mà nguyên nhân là những mâu thuẫn quan điểm về luật pháp và bất bình đẳng giữa các giai cấp, thế hệ. Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải đánh giá lại một cách sâu rộng về cách thức để cạnh tranh trong một thế giới kỹ thuật số phức tạp.
Tác giả Andrew Sheng là một thành viên xuất sắc của Viện Toàn cầu châu Á, Đại học Hồng Kông, và là Cố vấn trưởng của Ủy ban điều tiết ngân hàng Trung Quốc. Mạng Tin tức châu Á là một liên minh gồm 24 tổ chức truyền thông tin tức và là đối tác truyền thông của Straits Times.
Nguồn: Strait Times
Từ khóa: ASEAN, khu vực kỹ thuật số, tiên tiến, tương lai
Các tin khác
- Dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, cơ hội thúc đẩy quan hệ thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ - 07/09/2019
- Cuộc chiến thương mại chưa đạt đến đỉnh điểm. Cả Mỹ và Trung Quốc đều phải trả giá đắt - 07/09/2019
- Sai lầm của Mỹ trong chiến tranh thương mại, đã đến lúc phải đối diện với thực tế mới - 06/09/2019
- Khả năng tận dụng các ưu đãi từ CPTPP của Việt Nam còn thấp - 05/09/2019
- Thuế quan làm lợi cho các nhà sản xuất theo hợp đồng của Nhật Bản tại Đông Nam Á - 05/09/2019






















