JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếLý do ủng hộ thương mại tự do

Lý do ủng hộ thương mại tự do

Free-Trade-Business

Chính sách thương mại tự do - các công dân được phép tự do mua và bán hàng hóa và dịch vụ xuyên biên giới mà không cần sự can thiệp của chính phủ - hiện đang bị công kích hơn bao giờ hết. Bất chấp thực tế sự ủng hộ của công dân Mỹ đối với thương mại và toàn cầu hóa đang ở mức cao nhất mọi thời đại, song các chính trị gia, các học giả, và cả phe cánh hữu và cánh tả thì ngày càng chống đối sự đồng thuận chính trị lâu đời của Mỹ trong việc ủng hộ tự do hóa thương mại đa phương. Tuy nhiên, mối thù địch đối với thương mại tự do xuất phát từ những nhận định sai lầm. Mặc dù lý lẽ được phe chỉ trích đưa ra cũng đúng phần nào, ví dụ, chủ nghĩa trọng thương của Trung Quốc hay các quy tắc thỏa thuận thương mại khắt khe, song xét về mặt kinh tế, địa chính trị và, quan trọng hơn hết là về mặt đạo đức, vẫn có nhiều lý do mạnh mẽ để ủng hộ thương mại tự do như khi Adam Smith viết cuốn Sự thịnh vượng của các quốc gia gần 250 năm trước.

Thương mại và toàn cầu hóa đã mang lại những lợi ích kinh tế không thể phủ nhận cho phần lớn các hộ gia đình, doanh nghiệp và người lao động Mỹ. Rõ ràng nhất là lợi ích cho người tiêu dùng. Một số nghiên cứu ngày nay đã phát hiện ra rằng, thương mại tự do hơn với Trung Quốc đã giúp tiết kiệm hàng tỷ đô la cho người tiêu dùng Mỹ, nhờ việc gia tăng cạnh tranh và giá cả giảm - theo các nhà kinh tế học Xavier Jaravel và Erick Sager những lợi ích này thì tương đương với việc mang lại cho mỗi người Mỹ “thêm 260 USD chi tiêu mỗi năm cho các nhu cầu lợi ích khác.” Lợi ích mà người tiêu dùng (chủ yếu là người nghèo và tầng lớp trung lưu) nhận được từ hàng nhập khẩu sẽ càng lớn khi họ mua các hàng hóa được sản xuất tại Trung Quốc và được bán tại các cửa hàng như Walmart. Tầm quan trọng của những lợi ích này cũng bóc trần câu chuyện xưa cũ rằng thương mại tự do chỉ chủ yếu là buôn bán áo thun giá rẻ. Thật vậy, thặng dư người tiêu dùng nhờ vào thương mại tự do là một lý do chính giải thích tại sao người Mỹ ngày nay chỉ cần làm việc với số giờ ít hơn cũng đã có thể sở hữu các nhu yếu phẩm tốt hơn bất cứ thời điểm nào trước đây trong lịch sử.

Từ việc đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, thương mại kéo theo những lợi ích tổng thể cho toàn bộ nền kinh tế. Một nghiên cứu của Viện Kinh tế Quốc tế Peterson năm 2017 cho thấy, lợi ích từ việc Mỹ mở cửa thương mại trong giai đoạn năm 1950- 2016 là 2.1 nghìn tỷ USD, giúp tăng GDP bình quân trên đầu người lên 7000 USD, và tăng GDP bình quân trên mỗi hộ gia đình lên 18,000 USD - và một lần nữa, những lợi ích trên đổ dồn cho các hộ gia đình có thu nhập dưới chuẩn. Hơn thế nữa, Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ đã phát hiện trong năm 2016, các hiệp định thương mại khu vực và song phương như NAFTA đã tạo ra sự gia tăng hằng năm tuy nhỏ nhưng đáng kể trong GDP, cũng như trong việc làm và tiền lương thực tế của cả lao động tay nghề cao và lao động tay nghề thấp tại Mỹ. Như nhà kinh tế học Michael Strain thuộc Viện kinh doanh Hoa Kỳ đã lưu ý, những người theo chủ nghĩa dân túy hoài nghi về thương mại đã phớt lờ điều này, khi mà trong điều kiện kinh tế hiện nay, chỉ cần một sự tăng trưởng nhỏ trong GDP đã có thể đem lại lợi ích rất lớn cho những người lao động tiền lương thấp và trình độ kém, khi họ được tạo thêm việc làm và nhận thêm nhiều trợ cấp từ chính phủ.

Thương mại và toàn cầu hóa còn đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp và lao động Mỹ, bao gồm cả ngành sản xuất. Ví dụ, Phòng Thương mại đã ước tính gần 11 triệu việc làm ở Hoa Kỳ phụ thuộc vào xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trong năm 2016, và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Mỹ - khía cạnh khác của thâm hụt thương mại Mỹ - đã đóng góp hơn hàng triệu đô la. Trong khi đó, các công ty Mỹ thích ứng và phát triển mạnh trong nền kinh tế ngày nay thường tận dụng nguồn hàng nhập khẩu và chuỗi cung ứng toàn cầu. Ví dụ, San Francisco Fed hiện ước tính gần một nửa hàng nhập khẩu của Mỹ là các sản phẩm trung gian được các nhà sản xuất Mỹ sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa thành phẩm cạnh tranh toàn cầu; do vậy các nhà xuất khẩu lớn nhất cũng chính là các nhà nhập khẩu nhiều nhất. Nhiều nghiên cứu khác phát hiện rằng, phần lớn giá trị của một sản phẩm lắp ráp ở nước ngoài (như một chiếc iPhone lắp ráp ở Trung Quốc) là tích lũy cho doanh nghiệp Mỹ, bao gồm người lao động và cổ đông của các doanh nghiệp này, chứ không phải cho nơi lắp ráp cuối cùng.

Các chuỗi cung ứng này không chỉ cung cấp những sản phẩm hiện đại với mức giá phù hợp mà còn cho phép các doanh nghiệp và lao động Mỹ tập trung vào các lợi thế tương đối của mình là phân khúc hàng hóa giá trị cao, như các dịch vụ chuyên nghiệp và sản xuất tân tiến, và để lại những phân khúc hàng hóa giá trị thấp cho những quốc gia và lao động với kỹ năng kém hơn. Nghiên cứu của San Francisco Fed phát hiện, nhập khẩu cũng hỗ trợ hàng triệu việc làm tại Mỹ khác trong ngành vận tải, hậu cần và thương mại bán sỉ và bán lẻ - thực vậy, gần một nửa chi tiêu dùng của Mỹ dành cho các mặt hàng không “được sản xuất tại Mỹ”.

Cuối cùng, hàng nhập khẩu còn đem lại những lợi ích to lớn, vô hình thúc đẩy cải cách kinh tế và nâng cao tiêu chuẩn sống ở Mỹ. Gần đây, nhà kinh tế học Russ Roberts của Đại học George Mason đã lưu ý: “Khi chúng tôi tìm ra cách để sản xuất nhiều hơn trong khi nguồn lực bỏ ra ít hơn, nghĩa là chúng ta sẽ dư ra nhiều nguồn lực hơn để mở rộng các cơ hội ở những lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Sự mở rộng đó là vô hình… Nhưng việc này cực kỳ quan trọng.” Bất kể xu hướng trên là do công nghệ hay thương mại mang lại, dù sao thì kết quả không chỉ là hàng hóa rẻ hơn mà còn là hàng hóa tốt hơn (và không thể tưởng tượng được), việc làm tốt hơn, doanh nghiệp tốt hơn và đời sống tốt hơn. Và điều này chỉ có thể xảy ra bằng cách để người tiêu dùng và nguồn vốn của họ tự tìm đến nơi có năng suất cao hơn.

Đây là lý do tại sao, kết quả của việc đi ngược lại với thương mại tự do không phải chỉ là làm tăng giá bán của chiếc iPhone (trong trường hợp xấu nhất là 2000 USD), mà là không thể sản xuất ra chiếc iPhone nào cả.

Trong khi đó, chủ nghĩa bảo hộ nhiều lần cho thấy sự thất bại. Khi các nhà nghiên cứu tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) gần đây kiểm tra mức tăng thuế quan trên 151 quốc gia khác nhau trong giai đoạn từ năm 1963- 2014, họ phát hiện mối tương quan giữa các chính sách bảo hộ làm giảm đáng kể tổng sản phẩm quốc nội và năng suất sản xuất, gia tăng thất nghiệp và bất bình đẳng. Mỹ cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng: Hai nghiên cứu mới từ các nhà kinh tế thuộc Phòng nghiên cứu kinh tế quốc gia đã phát hiện, những gánh nặng kinh tế từ thuế quan 2018 của ông Trump đã ảnh hưởng đến người tiêu dùng Mỹ (doanh nghiệp và cá nhân). Nghiên cứu năm 2017 của Scott Lincicome lật lại các tài liệu học thuật có liên quan đến chủ nghĩa bảo hộ của Hoa Kỳ trước thời Tổng thống Trump trong hơn một thế kỷ qua cũng cho thấy phần lớn trường hợp, chủ nghĩa bảo hộ đã tạo ra chi phí kinh tế lớn cho người tiêu dùng, lao động và doanh nghiệp Mỹ (hơn 600,000 USD chi phí mỗi năm trên mỗi việc làm được tạo thêm tại Mỹ) trong khi không mở rộng các thị trường nước ngoài hoặc tiếp tục khôi phục các công ty và lao động Mỹ được bảo hộ trong một thời gian dài. Kết quả, các công việc dần ít đi, và các công ty hoặc phá sản hoặc phải nhờ đến sự giúp đỡ của chính phủ để tồn tại. Và điều đó đang xảy ra một lần nữa: Người tiêu dùng thép của Mỹ đang trả mức giá cao hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh toàn cầu, cổ phiếu ngành thép Mỹ lại thua xa chỉ số S&P 500. Vì những lý do này và các lý do liên quan khác, các nhà kinh tế cánh Tả, cánh Hữu và trung lập tiếp tục phản đối thuế quan khắp nơi (chính xác là 93% các chuyên gia trong Hội đồng Chuyên gia Kinh tế IGM) và họ ủng hộ thương mại và toàn cầu hóa tự do hơn.

Ngoài việc tạo ra các lợi ích kinh tế, thương mại cũng là một trụ cột của an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu. Như nhà sử học Robert Kagan thuộc Viện nghiên cứu Brookings đã lưu ý trên tờ Washington Post năm 2018, hệ thống thương mại đa phương ra đời không phải từ mong muốn tăng trưởng kinh tế toàn cầu hay trao quyền cho người tiêu dùng toàn cầu mà là từ nỗi sợ cuộc chiến tranh thế giới khác sẽ xảy ra. Và hệ thống này đã đáp ứng mục tiêu đó một cách hợp lý trong hơn bảy thập kỷ qua. Kể từ khi kết thúc Thế chiến thứ II, ông Kagan đã viết, hệ thống thương mại toàn cầu đã giúp ngăn chặn “nguy cơ cạnh tranh kinh tế biến tướng thành cạnh tranh địa chính trị”- “một trong những khác thường lịch sử vĩ đại nhất” của thời đại chúng ta. Tổ chức thương mại thế giới WTO đã cung cấp một kênh hiệu quả để giải quyết các tranh chấp thương mại song phương, đồng thời thúc đẩy các nước đang phát triển thực hiện các cải cách trong nước – bằng cách đưa việc cải cách thành “điều kiện” để gia nhập WTO, trong khi các cải cách này rất khó để thực hiện do các lý do về mặt chính trị. (Thậm chí Trung Quốc đã tiến hành những cải cách đó, còn những vi phạm của Trung Quốc sau khi gia nhập là do sự thất bại của các thành viên WTO trong việc buộc các nước thực thi cam kết, hơn là do bản thân các cam kết gia nhập). Hệ thống WTO chắc chắn không hoàn hảo, nhưng hệ thống này vẫn thích hợp hơn một hệ thống bị phân mảnh, và chắc chắn là, vẫn tốt hơn là chiến tranh. Thật vậy, việc Mỹ gần đây trở lại với hệ thống cũ (các thỏa thuận song phương và các hành động đơn phương) đã gây lo lắng trên khắp thế giới, ngay cả đối với một số đồng minh thân cận nhất của Mỹ, như Nhật Bản và Anh.

Cuối cùng, việc loại bỏ các biện pháp hạn chế hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, cũng như loại bỏ các biện pháp hạn chế vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Mỹ không chỉ là một quyết định về mặt kinh tế và địa chính trị, mà còn liên quan đến vấn đề đạo đức. Dù có ý định hay không, tự do hóa thương mại đã loại bỏ sự bất bình đẳng hoàn toàn trong hệ thống bảo hộ của Mỹ trước đây - bất bình đẳng thường bắt nguồn từ một căn phòng đầy khói thuốc của những người vận động hành lang và các nhà hoạch định chính sách cấp cao. Chủ nghĩa bảo hộ chống đỡ một cách vô hình các ngành công nghiệp và người lao động trong những ngành nghề nhất định, trong khi đánh đổi bằng thiệt hại cho phần lớn người Mỹ còn lại, và tạo ra các vấn đề kinh tế và địa chính trị như đã nói ở trên.

Thật vậy, ngày nay chúng ta đang chứng kiến lần nữa cách chủ nghĩa bảo hộ sinh ra chủ nghĩa thân hữu và sự rối loạn chính trị và những tổn thất của nhiều người Mỹ hơn. Các luật sư và giám đốc điều hành của “các tập đoàn thép lớn” trước đây, hiện đang làm việc dưới chính quyền ông Trump, đã đưa ra bàn luận về sự bảo hộ bằng thuế quan đối với những đồng nghiệp cũ đã từng ủng hộ điều này, đến lượt những đồng nghiệp này quyết định số phận của các yêu cầu cắt giảm thuế thép của người tiêu dùng Mỹ, mặc dù khách hàng tiêu thụ thép chiếm một thị phần lớn hơn trong nền kinh tế và lực lượng lao động Mỹ. Và đó mới chỉ là thuế thép. Liệu chi phí vận động hành lang liên quan đến thương mại trong hai năm qua có tăng vọt? Phe cánh tả nhắm đến “kiếm tiền từ chính trị” trong khi phe cánh hữu thì tiết lộ về sự yếu kém của các thỏa thuận khi họ cố tình nhắm mắt làm ngơ sự tham nhũng xuất phát từ các chính sách bảo hộ mà họ ủng hộ.

Tại sao một số ngành công nghiệp và lao động trong ngành đó lại được phép yêu cầu sự bảo hộ của chính phủ vì lý do đạo đức? Tại sao chính phủ nên ưu tiên những tiêu chuẩn sống của những lao động đó hơn mức sống của những người dân còn lại? Ví dụ, lao động da giày Mỹ đã hưởng lợi từ chính sách của chính phủ trong một thời gian dài nhờ Đạo luật thuế quan Smoot-Hawley năm 1930 nhằm bảo hộ công việc của họ thông qua những hạn chế ngầm đối với thương mại của những người Mỹ khác - những hạn chế buộc mỗi người, bao gồm cả người nghèo phải trợ cấp việc làm da giày bằng cách trả nhiều tiền hơn cho mỗi đôi giày họ mua. Có lẽ, nếu các loại thuế được bãi bỏ và người Mỹ có thể mua giày từ bất cứ ai họ muốn, chính phủ sẽ phải trợ cấp và đào tạo nghề cho người lao động bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, những người lao động bị ảnh hưởng này sẽ phải chịu ơn các chính sách bảo hộ, và việc loại bỏ chủ nghĩa bảo hộ không phải là một hành động phi đạo đức. Đó là điều đúng đắn để làm và những lợi ích kinh tế và địa chính trị lớn hơn chỉ là sự hấp dẫn bề ngoài.

Đạo đức thương mại không chỉ dừng lại ở mép ngoài: Việc cắt giảm các rào cản thương mại của Mỹ, cùng với sự lãnh đạo của Hoa Kỳ trong việc tạo ra các hiệp định và thể chế như WTO, đã tạo ra những lợi ích to lớn cho những người nghèo nhất thế giới. Như Ngân hàng Thế giới đã lưu ý trong Báo cáo về Vai trò của Thương mại trong việc xóa đói giảm nghèo, kể từ năm 1990, “một sự gia tăng đáng kể trong sự tham gia của các nước đang phát triển vào thương mại đã trùng với sự sụt giảm đáng kể của tình trạng nghèo đói trên toàn thế giới,” và số lượng người sống trong đói nghèo đã sụt giảm. Thương mại cũng “giúp gia tăng số lượng và chất lượng công việc tại những quốc gia đang phát triển, tích lũy tăng trưởng kinh tế thúc đẩy tăng năng suất.”

Một báo cáo mới từ Tổ chức Lao động Quốc tế cung cấp số liệu thống kê khổng lồ về vấn đề này: Từ năm 1993- 2018, tỷ lệ cá nhân ở các nước có thu nhập thấp và trung bình làm việc trong điều kiện nghèo đói đã giảm từ gần 42% xuống thấp hơn 10%- khoảng 600 triệu người thoát nghèo. Phần lớn chuyển từ nông nghiệp tự cung tự cấp sang công việc hưởng lương, cung cấp cho người nghèo lần đầu quyền tiếp cận đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các lợi ích khác. Và, trái lại, việc tạo ra việc làm tại những nước đang phát triển không xảy ra chủ yếu trong những xí nghiệp bốc lột công nhân: Tỷ lệ công nhân tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình gần như không thay đổi từ trong giai đoạn 1991-2018, với sự tăng trưởng việc làm thay vì đến từ các lĩnh vực như xây dựng và bán lẻ; từ năm 1999-2017, tiền lương thực tế có điều chỉnh lạm phát tại những quốc gia này đã tăng lên gấp 3 lần. Lao động trẻ em cũng dần biến mất: Tổng số lượng lao động trẻ em (độ tuổi từ 5-17) đã sụt giảm xấp xỉ 94 triệu trong giai đoạn 2000-2016 (từ mức 246 triệu xuống còn 152 triệu trẻ) và dự kiến sẽ giảm thêm hàng chục triệu trước năm 2025. Những cải thiện này đặc biệt đáng chú ý đối với phụ nữa và trẻ em gái, mà trong nhiều quốc gia những thành phần này phải đối mặt với các điều kiện xã hội khủng khiếp (như đói khát, hôn nhân sắp đặt, v.v.) trước khi những công việc mới này xuất hiện.

Tự do hóa thương mại đóng góp vào tất cả những điều này

Thương mại tự do chắc chắn là không phải không có phí, và các chuyên gia chắc chắn đã tính sai các dòng luân chuyển thương mại dự kiến và tác động của dòng thương mại lên các thị trường lao động nhất định. Tuy nhiên, những vấn đề mà thương mại tự do gây ra cho một số người Mỹ không đáng là bao so với các lợi ích chung to lớn mà thương mại tự do đem lại cho toàn nước Mỹ và thế giới. Và những khuyết điểm của thương mại tự do không thể làm mờ đi chuẩn mực đạo đức cơ bản hay những tổn thất đã được chứng minh cũng như sự không hiệu quả của chủ nghĩa bảo hộ. Người Mỹ cũng không thể thay đổi sự thật rằng toàn cầu hóa ngày nay được thúc đẩy không chỉ bởi “các thỏa thuận thương mại” hay các lựa chọn chính sách từ trên xuống mà còn bởi các thay đổi lớn trong công nghệ, như Internet và các container vận tải; thế giới thời hậu chiến, phần lớn đang phục hồi từ chiến tranh hoặc bắt nguồn từ Chủ nghĩa Cộng sản, là một trường hợp đặc biệt đối với công nhân Mỹ; rằng, xét về mặt lịch sử, công nghệ là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mất việc làm ở phân khúc công việc sản xuất kỹ năng thấp và trung bình tại Mỹ, và suy cho cùng công nghệ cũng sẽ giúp nâng cao năng suất cho những ngành nghề khác nhau; và cuối cùng, sự chết dần của các bang nội địa Mỹ, như Tim Carney đã bàn tới trong quyển sách mới Alienated America của mình, là do các nguyên nhân về xã hội (như hôn nhân, nhà thờ, và đời sống của bản thân người dân) hơn là vì lý do kinh tế.

Những thách thức này là một trong số những khó khăn nhất của thời đại chúng ta, và các giải pháp hiện tại không rõ ràng cũng không dễ dàng. Tuy nhiên, sự phản đối thương mại tự do hơn và việc duy trì chủ nghĩa bảo hộ sẽ chỉ khiến mọi việc tồi tệ hơn.

Nguồn: National Review

Từ khóa: thương mại tự do, chủ nghĩa bảo hộ, WTO, Hoa Kỳ, sản xuất

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008757131
Go to top