
Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) được công bố lần đầu tiên vào năm 2013 với tên gọi ‘Một vành đai, Một con đường’. Cho đến nay, 93 quốc gia đã chính thức tán thành sáng kiến này, chiếm tới 65% dân số toàn cầu.
Mục đích chính của BRI là kết nối Trung Quốc trên phạm vi quốc tế, cả về phương diện kinh tế lẫn chính trị, và cố gắng định hình một thế giới lấy Trung Quốc làm trung tâm. Mặc dù đã trải qua 5 năm thực hiện, các vấn đề khó khăn của BRI vẫn còn đó.
Bắt đầu bằng việc xây dựng 7 hành lang kinh tế vào năm 2013, BRI ngày nay đã mở rộng con số này lên đến 11. BRI hướng trọng tâm vào năm chủ đề: điều phối chính sách, kết nối hạ tầng, thương mại và đầu tư, hội nhập tài chính và trao đổi văn hóa. Đây không phải là một dự án viện trợ, mà là hoạt động xây dựng thông qua ưu đãi tài chính. Nói cách khác, BRI là một tập hợp các khoản vay và không phải là ‘một bữa trưa miễn phí’. Những khoản vay thương mại dần dà tăng nợ đáng kể cho các nước đi vay. Ví dụ được trích dẫn nhiều nhất là Sri Lanka: tổng số khoản vay từ Trung Quốc giai đoạn 2008 – 2017 của Sri Lanka ước đạt 7,3 tỉ USD.
Theo Emerging Market Institute, một số ngân hàng Trung Quốc đã cùng nhau cam kết cho vay hơn 400 tỷ USD cho các quốc gia có BRI đi qua, từ năm 2015 đến 2017. Chỉ riêng Ngân hàng Phát triển Trung Quốc đã hỗ trợ giải ngân khoảng 170 tỷ USD cho vay ra nước ngoài vào giữa năm 2017. Tương tự, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc báo cáo số dư giải ngân khoản vay 130 tỷ USD ở nước ngoài kể từ tháng 3 năm 2018.
Thông qua BRI, Trung Quốc đặt nền móng cho một mạng lưới giao thông toàn cầu, tạo ra các mạng lưới cơ sở hạ tầng khu vực và xuyên lục địa. Sáng kiến này đã giúp tiệu thụ một lượng lớn sản phẩm của Trung Quốc, thậm chí bao gồm các sản phẩm nội địa dư thừa như xi măng và thép.
Với mục tiêu ban đầu nhằm giảm chi phí vận chuyển, đặc biệt là ở các quốc gia không giáp biển, nhưng cho đến nay, hiệu quả mà dự án này đem lại vẫn chưa được rõ ràng. Trong khi các nước cộng hòa Trung Á đã mở rộng được cơ sở hạ tầng xuyên biên giới, vẫn chưa nhận thấy một tiến trình tương tự ở các nước đối tác BRI khác.
Từ năm 2014 đến 2017, đầu tư của Trung Quốc vào các dự án phát triển BRI đạt 340 tỷ USD. Hầu hết các khoản đầu tư tập trung dọc theo ‘con đường tơ lụa’ truyền thống. Nhiều khoản vay được giải ngân kèm theo một lịch trả nợ thoải mái. Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có một vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các dự án BRI.
Nhưng điều hiển nhiên là, thông qua BRI, Trung Quốc cho vay các quốc gia đang có nợ nần chồng chất. Một lượng lớn các quốc gia BRI hiện không được các thị trường tài chính xếp hạng đáng tin cậy.
Điều này chỉ ra dấu hiệu rắc rối. Một số quốc gia đang rút khỏi các dự án BRI hoặc đàm phán lại các thỏa thuận tài chính liên quan, chẳng hạn như Maldives, Pakistan và Malaysia. Đây là một phần hậu quả của các phương pháp cho vay mạnh tay cho nhiều dự án trong BRI. Các yêu cầu của Trung Quốc, như chỉ định thầu và bảo lãnh của chính phủ, đã khiến nước đi vay gặp nhiều bất lợi. Các quốc gia như Kenya, Bangladesh, Uganda và Zambia đã thực hiện các bước chống lại việc bị lợi dụng.
Lý do quan trọng nhất cho sự hoài nghi về BRI chính là các quốc gia không muốn đánh mất chủ quyền, đặc biệt khi mối lo ngại là bẫy nợ. Các quốc gia muốn tránh đi vào ‘vết xe đổ’của Sri Lanka. Năm 2017, Sri Lanka đã phải bàn giao cảng Hambantota cho chính quyền Trung Quốc theo hợp đồng thuê dài hạn, vì nước này không thể thanh toán các khoản vay cho Trung Quốc.
Có rất nhiều những rủi ro. Từ quan điểm nội bộ Trung Quốc, nước này đang đánh cược rất lớn vào triển vọng tương lai các nước đối tác trong BRI. Còn từ góc độ của các nước bên ngoài, dự án này hoàn toàn thiếu minh bạch. Chưa có một kế hoạch tổng thể, hoặc chưa có một danh sách các dự án trung tâm. Trong khi đó, không có dữ liệu chính thức về các khoản đầu tư trong quá khứ hoặc tương lai. Rắc rối càng gia tăng bởi môi trường chính trị ở nhiều quốc gia trong BRI, những nước quản trị yếu kém và thiếu minh bạch.
Nhưng trong bối cảnh thế giới sẽ đối mặt với sự giảm tốc thương mại toàn cầu trong tương lai gần, BRI lại được dịp nâng cao vai trò trong việc đẩy lùi sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ toàn cầu. Tiếp bước thành công của Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), Trung Quốc có thể giới thiệu một hệ thống đa phương tương tự, thông qua BRI, để sắp xếp hiệu quả hơn các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ở các nước đang phát triển và các nước kém phát triển (LDCs).
Các nước đang phát triển và LDC cần các khoản đầu tư tương tác, thay vì đơn thuần là hỗ trợ tài chính, nhằm tăng cường khả năng kết nối. Sự hợp tác của Trung Quốc với Nhật Bản và Ấn Độ sẽ giúp ích rất nhiều trong việc kết nối Nam Á, chỉ khi các nước này tin tưởng lẫn nhau nhiều hơn. Không thể phủ nhận rằng, Nhật Bản vẫn đóng một vai trò đáng kể trong việc nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc và tính khả thi của dự án.
Các nước cần tập trung đặc biệt vào thuận lợi hóa thương mại, hợp tác tài chính và kết nối kỹ thuật số. Điều này bao gồm hợp lý hóa các biện pháp phi thuế quan, thương mại không giấy tờ, xúc tiến thương mại và đầu tư dịch vụ, cơ sở hạ tầng mềm và các dự án đan xen với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Với việc các nước lớn tung ra chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, chính quyền Trung Quốc có thể phải thiết kế lại tầm nhìn BRI của nước này. BRI có tiềm năng thúc đẩy thương mại trên toàn thế giới, miễn là đảm bảo tính minh bạch và quản trị, và trở thành một sáng kiến toàn cầu tôn trọng hoàn toàn chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia đối tác. Trung Quốc cần chứng minh rằng BRI là một dự án hợp tác lẫn nhau, chứ không phải là một dự án thuộc sở hữu của Trung Quốc. Bằng cách này, Trung Quốc mới có thể xây dựng niềm tin với các nước khác.
Mitchir De là Giáo sư tại Research and Information System for Developing Countries (RIS), New Delhi. Các quan điểm trên là của riêng tác giả.
Nguồn: East Asia Forum
Từ khóa: cách thức, sáng kiến Vành đai và Con đường, hữu hiệu
Các tin khác
- Doanh nghiệp xuất khẩu Việt trước áp lực hàng rào kỹ thuật - 26/04/2019
- Quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc đạt nhiều tiến triển mới - 25/04/2019
- Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung thúc đẩy Việt Nam tăng trưởng - 25/04/2019
- Quốc hội Mỹ: Hiệp định NAFTA mới có thể giúp GDP Mỹ tăng thêm 68 tỷ USD và tạo thêm nhiều việc làm - 25/04/2019
- Công đoàn Công Thương với CPTPP: Đổi mới để thích ứng - 25/04/2019






















