JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếMỹ, Trung Quốc và các giới hạn của thương mại tự do

Mỹ, Trung Quốc và các giới hạn của thương mại tự do

TrungQuocMy2004

Toàn cầu hóa phải nhường đường cho các ưu tiên kinh tế trong nước ở cả hai quốc gia.

Kinh tế thế giới cực kỳ cần đến một kịch bản “chung sống hòa bình” giữa Mỹ và Trung Quốc. Cả hai cần chấp nhận quyền phát triển kinh tế theo cách riêng của mỗi nước. Mỹ không nên cố ép kinh tế Trung Quốc phát triển theo khuôn mẫu kinh tế thị trường tư bản, và Trung Quốc cũng phải thừa nhận các lo ngại của Mỹ liên quan đến vấn đề việc làm và rò rỉ công nghệ, và chấp nhận một số giới hạn khi tiếp cận thị trường Mỹ được đặt ra để giải quyết các lo ngại trên.

Thuật ngữ “chung sống hòa bình” xuất phát từ thời kỳ chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và liên minh Xô Viết, khi cả hai bên nhận ra rằng, chế độ cộng sản và tư bản phải tồn tại song song với nhau.

Suốt thời kỳ chiến tranh Lạnh, quan điểm “cùng tồn tại trong hòa bình” tuy không loại bỏ hoàn toàn mâu thuẫn, khi mỗi bên đều xây dựng cho mình những cơ chế riêng để tranh giành ảnh hưởng toàn cầu, nhưng đã thành công trong việc ngăn chặn một cuộc đối đầu quân sự trực diện giữa hai siêu cường được trang bị vũ khí hạt nhân. Tương tự, trong cuộc chiến kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc, “cùng tồn tại trong hòa bình” là con đường duy nhất để ngăn các cuộc chiến tranh thương mại tốn kém giữa hai cường quốc kinh tế trên thế giới.

Bế tắc ngày nay giữa Mỹ và Trung Quốc bắt nguồn từ lỗi hệ thống mà tôi gọi là “siêu toàn cầu hóa”, trong đó, các quốc gia phải mở cửa kinh tế tối đa cho các công ty nước ngoài, bất chấp các hậu quả của việc làm đó đối với chiến lược tăng trưởng hay mô hình xã hội của các quốc gia đó. “siêu toàn cầu hóa” đòi hỏi các mô kinh tế của các nước – tức các quy tắc nội địa để vận hành thị trường – phải giống nhau đáng kể. Nếu không, các quy định và tiêu chuẩn của từng quốc gia sẽ trở thành rào cản cho việc tiếp cận thị trường – còn gọi là “rào cản thương mại phi thuế quan”.

Vì vậy, khiếu nại chủ yếu của Mỹ đó là, các chính sách công nghiệp của Trung Quốc khiến các doanh nghiệp Mỹ gặp khó khăn khi kinh doanh trên thị trường này. Chính sách trợ cấp tín dụng của Trung Quốc giúp nuôi sống các doanh nghiệp nhà nước của nước này, và cho phép các doanh nghiệp đó sản xuất quá mức cần thiết. Các quy định về sở hữu trí tuệ cũng không làm chặt vấn đề bản quyền và bằng sáng chế, từ đó mở đường cho tình trạng sao chép các công nghệ mới. Các quy định về chuyển giao công nghệ thì buộc nhà đầu tư nước ngoài phải thành lập liên doanh với các doanh nghiệp Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc còn có các quy định hạn chế các công ty tài chính Mỹ được phục vụ đối tượng khách hàng là người Trung Quốc. Tổng thống Trump đã sẵn sàng để biến lời đe dọa đánh thuế trừng phạt lên 200 tỷ USD hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc thành hiện thực, nếu Bắc Kinh không làm theo các yêu cầu của Mỹ trong các vấn đề trên.

Về phía Trung Quốc, nước này cũng không mặn mà phản bác lại các cáo buộc cho rằng xuất khẩu của mình là nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất việc làm ở Mỹ, hay một vài công ty của Trung Quốc đang ăn cắp các bí mật công nghệ. Có khả năng Mỹ sẽ vẫn duy trì mở cửa cho hàng xuất khẩu và đầu tư của Trung Quốc. Nhưng việc Trung Quốc mở cửa thương mại cho thế giới sẽ được kiểm soát cẩn thận và theo trình tự, để tránh các tác động ngược lên việc làm và tiến bộ công nghệ.

Để chung sống hòa bình, đòi hỏi Mỹ và Trung Quốc phải cho phép nhau có không gian chính sách lớn hơn, tức là hội nhập kinh tế quốc tế phải xếp sau các mục tiêu kinh tế xã hội trong nước. Trung Quốc sẽ rãnh tay để tiến hành các chính sách công nghiệp và các quy định tài chính, để xây dựng một nền kinh tế thị trường với các đặc điểm riêng biệt của Trung Quốc. Mỹ cũng sẽ tự do bảo vệ thị trường lao động khỏi các sự phá giá xã hội, và tiến hành giám sát chặt chẽ hơn đối với các khoản đầu tư của Trung Quốc mà Mỹ cho là đe dọa mục tiêu an ninh quốc gia và công nghệ.

Có ý kiến phản đối cho rằng, cách làm này sẽ mở đường cho chủ nghĩa bảo hộ, khiến thương mại thế giới bị chững lại. Nhưng đó là do họ đã hiểu sai về những lý do đằng sau các chính sách thương mại mở cửa. Nguyên lý lợi thế cạnh tranh đã chỉ rõ, các nước giao thương bởi vì lợi ích của chính nước đó. Khi các nước tiến hành chính sách hạn chế thương mại, đó là bởi vì các nước đó đã thu được lợi ích ở một nơi khác để bù đắp, hoặc bởi vì sự thất bại chính trị trong nước, ví dụ, bất lực trong việc bù đắp cho những người bị thiệt thòi.

Trong ví dụ thứ nhất, thương mại tự do hơn không được đảm bảo, bởi vì điều đó sẽ khiến xã hội tệ hơn. Trong trường hợp thứ hai, thương mại tự do hơn có thể được đảm bảo, nhưng chỉ khi thất bại chính trị được giải quyết, và việc bù đắp được thực hiện. Các hiệp định quốc tế và các đối tác thương mại không thể phân biệt giữa hai trường hợp hạn chế thương mại trên. Và thậm chí nếu có thể, không rõ là họ có thể cung cấp các biện pháp cứu chữa đủ mạnh, cho phép sự bù đắp, để tiếp tục thương mại tự do, hoặc tránh phát sinh thêm các vấn đề chính trị, gây ra bởi các lợi ích đặc biệt khác, như các ông lớn ngân hàng hay các công ty đa quốc gia.

Lấy trường hợp Trung Quốc làm ví dụ. Nhiều nhà phân tích tin rằng, các chính sách công nghiệp của Trung Quốc đã giữ vai trò then chốt trong việc biến nước này thành một cường quốc kinh tế. Nếu đúng là vậy, Trung Quốc sẽ không từ bỏ những chính sách này, xét trên góc độ lợi ích của Trung Quốc hay lợi ích của kinh tế thế giới. Ngược này, nếu các chính sách công nghiệp này là có hại, như số khác lập luận, thì toàn bộ chi phí sẽ do Trung Quốc tự gánh lấy. Cho dù là thế nào, cũng rất vô lý khi trao quyền cho các nhà đàm phán thương mại, và các nhóm lợi ích núp đằng sau đó, giải quyết các vấn đề nền tảng trong chính sách kinh tế mà thậm chí các nhà kinh tế học còn chưa thống nhất được.

Những ai lo lắng cách làm này sẽ mở đường cho chủ nghĩa bảo hộ nên nằm lòng kinh nghiệm từ Hiệp ước GATT (tiền thân của WTO). Theo GATT, các nước phải có sự tự do lớn hơn để theo đuổi các chính sách kinh tế riêng của mình. Thương mại thế giới đã tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn trong giai đoạn 35 năm sau Thế chiến thứ hai, hơn là trong giai đoạn “toàn cầu hóa quá mức” những năm sau thập niên 1990. Một lập luận thuyết phục khác là, nhờ vào các chính sách tăng trưởng không chính thống, Trung Quốc ngày nay mới có thể phát triển thành một thị trường lớn cho các nhà xuất khẩu và các nhà đầu tư nước ngoài, điều mà Trung Quốc khó lòng đạt được nếu nước này tuân thủ chặt chẽ vào các chính sách của WTO.

Cuối cùng, một số người có thể cho rằng, các lo lắng này là không cần thiết, bởi vì Trung Quốc đã gia nhập WTO và phải tuân thủ luật chơi. Nhưng việc Trung Quốc gia nhập WTO là dựa trên ý tưởng Trung Quốc sẽ trở thành một nền kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây. Điều đó đã không xảy ra, và không có một lý do hợp lý nào để kỳ vọng, điều đó sẽ, hoặc nên xảy ra. Một sai lầm không thể sửa chữa bằng cách rào nó lại. Một hệ thống quản trị thương mại toàn cầu không thể thích nghi với một nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới như Trung Quốc mới là hệ thống có nhu cầu cấp thiết cần được sữa chữa.

Tác giả: Dani Rodrik, Giáo sự Kinh tế Chính trị Quốc tế tại Trường F.Kennedy, Đại học Harvard.

Nguồn: Asia Nikkei

Từ khóa: Mỹ, Trung Quốc, giới hạn, thương mại tự do

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008764196
Go to top