JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếHội nhập kinh tế tại Đông Á và ASEAN – Tầm nhìn dài hạn

Hội nhập kinh tế tại Đông Á và ASEAN – Tầm nhìn dài hạn

asean1 jajk

Những bất ổn gần đây, phát sinh từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung và Brexit (sự kiện Anh quốc chuẩn bị rời khỏi Liên minh Châu Âu) sẽ không thể kiềm hãm tiến trình hội nhập kinh tế đang diễn ra bên trong khu vực Đông Á và ASEAN.

Trong 5 thập kỷ qua, những thành tựu về kinh tế của một số quốc gia tại Đông Á và ASEAN đã trở thành động lực thúc đẩy hội nhập kinh tế sâu rộng hơn trong khu vực.

Giai đoạn này cũng được đánh dấu bởi những bùng nổ trong nền kinh tế và thương mại thế giới.

Hội nhập kinh tế khu vực

Hội nhập kinh tế nghĩa là các nước ngày càng phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn về kinh tế. Sự phụ thuộc này được thể hiện qua sự chuyển dịch nơi sản xuất hàng hóa – đối với cả sản phẩm hoàn chỉnh và các nguồn nguyên liệu đầu vào, và sự mở rộng giao thương giữa các nước.

Dĩ nhiên, tiến trình này chỉ diễn ra hiệu quả nếu các dòng chảy lao động, vốn, và nguyên liêu thô được lưu chuyển tự do giữa các quốc gia. Song song với tiến trình này, hoạt động đầu tư nước ngoài và nội địa tại các nước trong khu vực cũng phát triển.

Trong những thập kỷ trước, một số ngành sản xuất đã trở thành động lực thúc đẩy Trung Quốc chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế. Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự dịch chuyển của các ngành này sang các nước Đông Nam Á và Đông Á khác.

“Những bằng chứng”

Tỷ lệ giá trị hoạt động thương mại toàn cầu trên tổng sản lượng toàn cầu (GDP) đã tăng lên theo thời gian. Mức độ thay đổi trong cấu trúc kinh tế càng được thể hiện rõ nét hơn tại khu vực Đông Á và ASEAN.

Vào những năm 1960, giá trị xuất khẩu của khu vực ra toàn thế giới chỉ chiếm khoảng 10% tổng sản lượng toàn cầu (hay GDP). Ngày nay (những năm 2010), tỷ lệ giá trị xuất khẩu của khu vực trên tổng sản lượng toàn cầu đạt khoảng 25%.

Theo dữ liệu của WTO, vào năm 2015, các quốc gia Đông Á (Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan; Nhật Bản và Hàn Quốc) và ASEAN (Singapore, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Indonesia, Philippines, và những thành viên khác) chiếm khoảng 32,6% tổng giá trị hoạt động xuất khẩu toàn cầu, tương đương 16.482 tỷ USD. (Thực tế, trong cùng giai đoạn này, tỷ lệ giá trị nhập khẩu của khu vực trên tổng giá trị nhập khẩu toàn cầu còn cao hơn, đạt 34,7%)

Cần phải lưu ý là hầu hết các nước này đều có tỷ lệ giá trị xuất khẩu trên tổng sản lượng quốc nội (hay GDP) rất cao. Những nước lớn thường có tỷ lệ xuất khẩu trên GDP nhỏ hơn. Nguyên nhân có thể là do các thị trường nội địa của họ thường lớn hơn và mức độ giao thương nội địa cao hơn, kể cả khi họ tham gia mạnh mẽ vào hoạt động thương mại quốc tế.  

“Phát triển theo thời gian”

Giai đoạn đầu tiên của tiến trình phát triển này là sự tăng trưởng của Nhật Bản trong những năm 1950, kế đến là quá trình tự do hóa kinh tế, mở cửa thương mại và mở rộng xuất khẩu vào các thị trường phương Tây của những đất nước mà sau này được mệnh danh là những con hổ kinh tế Châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore) từ những năm 1960 đến 1970. Và sau đó là sự nổi dậy của Trung Quốc.

Trong suốt giai đoạn này, các nước đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh chóng. Một số trung tâm công nghiệp quan trọng ra đời, giúp lan toàn lợi ích của tăng trưởng kinh tế đến nhiều quốc gia và địa phương trong khu vực.

Những thay đổi trong cấu trúc diễn ra được là nhờ vào sự tháo dỡ các hàng rào thương mại. Các cuộc đàm phán thương mại đa phương diễn ra từ những năm 1960 đến 1990 đã giúp cắt giảm nhiều rào cản thuế quan giữa các nước. Dĩ nhiên, bước tiến quan trọng cuối cùng của giai đoạn này chính là sự hình thành của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào những năm 1990.

Song song với tiến trình cắt giảm thuế quan đa phương là sự phát triển của các khối thương mại khu vực. Ví dụ, tại Đông Nam Á, tổ chức ASEAN ngày càng có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ lên nền kinh tế khu vực, khi Hội nghị Thượng định Bali năm 1976 giữa các lãnh đạo ASEAN chỉ đạo các bộ trưởng kinh tế thiết lập chương trình để đàm phán thương mại.

Một bước đột phát quan trọng khác tại khu vực, diễn ra gần như cùng lúc với sự chào đời của WTO, là khi các nhà lãnh đạo quyết định thành lập Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA) vào năm 1993, hứa hẹn tháo gỡ sâu hơn các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Về sau, một bước đi trưởng thành hơn nữa xuất phát từ quyết định này, chính là sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế ASEAN.

Thông qua việc mở rộng các hiệp định kinh tế nội khối khu vực, ASEAN càng thu hút thêm nhiều nước láng giềng ở Đông Á và Thái Bình Dương tìm đến để đầu tư vào giao thương với khu vực.

Hoạt động mở rộng quan hệ thương mại được thực hiện theo 3 hướng: thông qua các hiệp định song phương với một số nước trong ASEAN, thông qua những nổ lực xây dựng hiệp định thương mại với cả khối ASEAN, và thông qua việc mở rộng những ranh giới hợp tác đa phương quan trọng giữa các nước và khối ASEAN.

Bằng cách này, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc (những cường quốc thương mại hàng đầu của Đông Á) đã thành công trong việc ký kết những hiệp định thương mại với ASEAN, và củng cố các mối quan hệ kinh tế song phương thông qua những khoảng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ASEAN.

Tương tự, trong bối cảnh khu vực rộng hơn tại Châu Á – Thái Bình Dương, các mối quan hệ kinh tế cũng được mở rộng. Hội nghị APEC (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương) trở thành một diễn đàn thường niên để giải quyết các vấn đề thương mại và củng cố quan hệ kinh tế giữa tất cả các nước tham gia, thông qua những cuộc họp mặt thường kỳ của các nhà lãnh đạo chính trị cấp cao giữa các nước thành viên.

Bằng những chương trình hợp tác kinh tế, tất cả những thể chế này đã thúc đẩy hội nhập sâu rộng hơn trong khu vực. Hiệp định thương mại giữa các nước giúp mở rộng cơ hội giao thương và dòng chảy nguồn lực.

Quả thực là những chương trình hợp tác này vẫn có khả năng bị trì hoãn. Nhưng đối với các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi và tăng trưởng, nhu cầu về phát triển và ổn định kinh tế cuối cùng vẫn sẽ là động lực để các dòng chảy lao động, hàng hóa, nguồn vốn và các khoảng đầu tư trực tiếp tiếp tục luân chuyển. Dĩ nhiên, các hiệp định thương mại rồi cũng sẽ được triển khai.

“Hội nhập khu vực sâu hơn mà không có Mỹ”

Trong bối cảnh hiện tại, chúng ta có thể nói rằng cuộc chiến thương mại mà chính quyền Trump châm ngòi là một chướng ngại, chỉ có thể đe dọa làm chậm tiến trình thay đổi.

Tương tự như những âm hưởng từ sự kiện Brexit bên trong Liên minh Châu Âu.

Bằng chứng là, mặc dù cuộc chiến thuế quan giữa Mỹ và Trung Quốc gần đây đang nóng lên. Nhưng cho đến hiện tại, những tác động của nó chỉ ảnh hưởng đến một phần nhỏ trong nền thương mại toàn cầu – khoảng 2% giá trị thương mại thế giới, chỉ là một phần không đáng kể.

Hiện tại, Mỹ và Trung Quốc đang nghiêm túc đàm phán song phương để hạ nhiệt cuộc chiến thuế quan, bởi vì nó có thể gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho cả hai bên.

Trong tình hình này, nhu cầu về một hiệp định thương mại là vô cùng to lớn.

Nguồn: Philstar

Từ khóa: Hội nhập kinh tế, ASEAN, chiến tranh thương mại, hiệp định tự do thương mại

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008759395
Go to top