
Ngày nay, mạng lưới thương mại toàn cầu đã được thiết lập vững chắc. Tuy nhiên, để có thể đạt được mức độ phức tạp như hiện nay, mạng lưới này đã phải trải qua rất nhiều thập kỉ và được củng cố bởi nhiều thoả thuận thương mại khác nhau.
Với việc Donald Trump đang áp đặt thuế quan lên các mặt hàng thép và nhôm nhập khẩu, có vẻ như đây là thời điểm mà chúng ta cần phải gợi nhớ lại những lợi ích của hệ thống thương mại toàn cầu mà Hoa Kỳ từng giúp tạo ra.
Từ năm 1950 đến năm 1973, giá trị thực của hoạt động thương mại toàn cầu đã tăng 8.2%, giúp cho rất nhiều quốc gia hồi phục từ sự tàn phá của cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Mặc dù những tiến bộ khoa học kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng hiển nhiên trong sự phát triển của mạng lưới thương mại quốc tế, nhưng động lực chính trị cũng đã cho thấy một sức ảnh hưởng to lớn không kém.
Các hiệp định thương mại cung cấp một khuôn khổ pháp lý giúp cho hàng hoá và nguồn vốn có thể dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác; chúng là những nhân tố hỗ trợ quan trọng cho nền kinh tế toàn cầu.
Trải qua nhiều thế kỷ, các thoả thuận này đã giúp mở cửa nhiều thị trường mới, thúc đẩy tăng trưởng và tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới mẻ. Mặc dù những người phản đối toàn cầu hóa đã chỉ ra rằng, không phải tất cả mọi người đều được hưởng lợi như nhau từ các hiệp định tự do thương mại, thế nhưng ảnh hưởng của nó trên phương diện quốc tế là điều không thể chối cãi. Dưới đây là 5 hiệp định thương mại có ý nghĩa quan trọng nhất trong lịch sử:
Công ước Kanagawa (1854)
Các hiệp định thương mại đã chứng minh được tầm quan trọng của chúng không chỉ bởi những ảnh hưởng trực tiếp lên nền kinh tế, mà còn thông qua những tác động lâu dài. Công ước Kanagawa là một minh chứng rõ ràng cho điều này.
Công ước Kanagawa - được ký kết giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản dưới sự đe doạ của quân đội Hoa Kỳ - đánh dấu sự kết thúc cho chính sách tách biệt kinh tế và văn hoá của Nhật bắt nguồn từ đầu thế kỷ thứ 17.
Trước khi ký kết Công ước, hoạt động ngoại thương duy nhất mà Nhật Bản tham gia chính là với 2 nước Hà Lan và Trung Quốc, việc giao thương chỉ được diễn ra tại Nagasaki và dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt từ chính phủ. Mặc dù Công ước Kanagawa không khiến cho thương mại Nhật Bản tăng trưởng dữ dội ngay lập tức, nhưng nó đã góp phần giúp cho rất nhiều hiệp ước sau đó giữa Nhật Bản và các cường quốc phương Tây được ký kết.
Những thoả thuận ‘bất công’ này thường chứa đựng các điều khoản đầy bất lợi, thiên vị bên đối tác và làm yếu đi chủ quyền của Nhật Bản. Các hiệp định thương mại này đã giúp chính quyền Nhật Bản nhận thức được rằng nước họ đang thua xa phần còn lại của thế giới đến mức nào. Nhờ vậy, chúng đã đóng một vai trò then chốt, làm tiền đề cho giai đoạn hiện đại hoá nhanh chóng của Nhật Bản, được biết đến với tên gọi cuộc Duy Tân Minh Trị.
Hiệp ước Cobden-Chevalier (1860)
Hoạt động thương mại quốc tế có lẽ đã tồn tại từ hàng trăm năm trước, tuy nhiên các thoả thuận tự do thương mại chính thức thì chỉ mới được phát triển tương đối gần đây. Vào năm 1860, trước tình hình một cuộc chiến tranh trên biển nhăm nhe nổ ra giữa Anh và Pháp, hai nhà ngoại giao Richard Cobden và Michel Chevalier đã đàm phán một hiệp ước mà sức ảnh hưởng của nó lên viễn cảnh kinh tế Châu Âu đến cuối thế kỷ thứ 19 là vô cùng to lớn.
Dựa theo Hiệp ước Cobden-Chevalier, thuế quan giữa Vương quốc Anh và Pháp sẽ được giảm xuống đáng kể, điều này giúp cho giá trị xuất khẩu hàng hóa của Anh Quốc đi qua eo biển Manche tăng lên gấp đôi trong suốt cả một thập kỷ. Hiệp ước này có tầm quan trọng to lớn cũng bởi vì nó là một trong những ví dụ đầu tiên cho mệnh đề ưu đãi tối huệ quốc – trụ cột chính cho chế độ pháp luật thương mại toàn cầu tính đến hiện nay. Những thoả thuận thương mại tương tự giữa các nước lớn khác ở châu Âu cũng nhanh chóng xuất hiện sau khi Hiệp ước Cobden-Chevalier được thông qua.
Không chỉ giúp các nhà sản xuất ở Anh và Pháp tiếp cận với một thị trường mới, hiệp ước này còn giúp cho mối quan hệ giữa hai nước được củng cố đáng kể. Hiện nay, quan điểm cho rằng tăng cường hoạt động thương mại sẽ giúp thúc đẩy hoà bình đang được hưởng ứng rộng rãi, quan điểm này đã không thể tồn tại nếu Hiệp ước Cobden-Chevalier không được ra đời.
Cộng đồng Than Thép châu Âu (1952)
Trong suốt nửa đầu thế kỷ thứ 20, lục địa Châu Âu bắt đầu bị chia rẽ từ bên trong. Tư tưởng chủ nghĩa quốc xã từng được dùng để nhấn mạnh sự khác biệt giữa các quốc gia và đồng thời loại bỏ các giá trị và lịch sử chung giữa các nước. Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC), được thành lập vào ngày 23 tháng 7 năm 1952, là nỗ lực đầu tiên để đảm bảo rằng những vấn đề như trên sẽ không bao giờ xảy ra nữa.
Sự xuất hiện của ECSC đã mở ra một thị trường chung cho các mặt hàng than đá, quặng sắt và phế liệu tại 6 nước thành viên (bao gồm Bỉ, Pháp, Tây Đức, Ý, Hà Lan và Luxembourg). Cộng đồng này đã giúp việc hợp tác kinh tế giữa các nước ký kết tăng lên đáng kể – hoạt động giao thương trong ngành thép tăng lên gấp 10 lần sau khi cộng đồng được thành lập – đồng thời làm lộ rõ tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các cường quốc. Xét trên phương diện này, ECSC đã mở đường cho các nước châu Âu hội nhập sâu hơn, và được coi như là tiền thân của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu và cả tổ chức kế nhiệm sau đó, Liên minh Châu Âu (EU).
CETA (2016)
Mặc dù nổi tiếng với danh hiệu nhà vô địch tự do thương mại, EU cũng nhận thấy rằng việc hoàn thiện các thoả thuận thương mại hiện đại là một công việc rất phức tạp. Với sự tồn tại của Nghị viện châu Âu, Hội đồng châu Âu và chính phủ các quốc gia (cộng với một vài chính phủ khu vực), tất cả đều có quyền bác bỏ bất kì các thoả thuận tiềm năng nào, thế nên có rất nhiều chướng ngại mà EU cần phải vượt qua trước khi có thể đặt bút ký kết một hiệp định.
Vì mức độ phức tạp như vậy, nên thật không mấy bất ngờ khi thoả thuận thương mại tự do giữa EU và Canada, Hiệp định Kinh tế và Thương mại Toàn diện (CETA), đã mất đến 7 năm đàm phán. Hiệp định bao gồm một gói cắt giảm thuế quan đầy tham vọng, trong đó xoá bỏ thuế quan cho 98.6% hàng hoá đến từ Canada và 99% hàng hoá xuất xứ từ EU. Thoả thuận được dự đoán sẽ giúp tăng trưởng GDP cho cả hai bên và được xem là hình mẫu tiềm năng cho mối quan hệ thương mại giữa Vương quốc Anh hậu Brexit và EU trong tương lai.
CPTPP (2018)
Donald Trump đã đưa ra rất nhiều lời đe doạ trong suốt chiến dịch bầu cử của ông: Trump thề sẽ xây dựng một bức tường dọc theo biên giới Mexico, đề xuất đưa Hoa Kỳ ra khỏi NATO và cho biết sẽ xem xét việc khởi tố bà Hillary Clinton về vụ email cá nhân. Những lời hứa hẹn đó, trong vô số những lời hứa hẹn khác, đều đã không trở thành hiện thực. Thế nhưng, Trump cũng đã hoàn thành được một trong những lời cam kết tranh cử của ông chỉ vài ngày sau khi nhậm chức. Đó là rút Mỹ ra khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương.
Sự vắng mặt của nền kinh tế lớn nhất thế giới chắc chắn là một đòn giáng mạnh và có khả năng phá bỏ toàn bộ hiệp định. Thế nhưng, 11 nước thành viên còn lại (bao gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam) cuối cùng cũng đã quyết định tiếp tục kiên trì với thoả thuận này. Được đổi tên thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), thoả thuận này vẫn đảm bảo một thị trường dành cho gần 500 triệu người và một vài quốc gia khác có ý định tham gia vào một ngày không xa.
Đây cũng là cơ hội để Trump thay đổi quyết định của mình. Và nếu như ông không thay đổi, CPTPP vẫn cho thấy rằng còn nhiều quốc gia khác trên thế giới rất sẵn lòng để tham gia bảo vệ mạng lưới thương mại toàn cầu.
Nguồn: World Finance - HN
Từ khóa: Hiệp định thương mại tự do, toàn cầu hóa, chủ nghĩa bảo hộ, CPTPP, tự do hóa thương mại
Các tin khác
- Tiến tới thực thi CPTPP- Sẵn sàng các điều kiện cần thiết - 19/03/2018
- Một chuyến thăm với 3 dấu ấn - 19/03/2018
- Trung Quốc sẽ không gây hấn bằng đậu nành - 17/03/2018
- CPTPP: Một chiến thắng cho sự lý trí trong hoạt động thương mại - 17/03/2018
- Tam giác phát triển Campuchia-Lào-Việt Nam: Cơ chế hợp tác gắn kết, hiệu quả - 16/03/2018






















