JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếKhông riêng gì “toàn cầu hóa”, chính phủ các nước cũng phải nhận một phần trách nhiệm cho tình trạng bất bình đẳng

Không riêng gì “toàn cầu hóa”, chính phủ các nước cũng phải nhận một phần trách nhiệm cho tình trạng bất bình đẳng

brexit 9

Quá trình hội nhập vào thế giới hiện đại chưa bao giờ làm chính phủ mất đi quyền kiểm soát.

Với sự nổi lên của Donald Trump, Brexit, và áp lực từ chủ nghĩa dân túy trên toàn Châu Âu, phải chăng quá trình tự do hóa thương mại quốc tế đang bước vào một cuộc khủng toàn diện? Dĩ nhiên, tiến trình toàn cầu hóa cũng đặt ra những thách thức về chính sách cho chính phủ các nước. Tuy nhiên, toàn cầu hóa không phải là nguyên nhân buộc các chính phủ phải áp dụng những chính sách khiến quốc gia của họ bị chia rẽ, làm trầm trọng hóa tình trạng bất bình đẳng và ảnh ưởng đến cơ cấu xã hội. Thực tế, chính phủ các nước đã tự áp dụng nhiều chính sách làm trầm trọng những tình trạng trên.

Những người theo chủ nghĩa dân túy đổ lỗi, chúng ta ngày càng trao quyền quyết định cho thị trường. Thế nhưng đó không phải là vấn đề. Kinh tế thị trường vẫn là giải pháp tốt nhất để tạo ra của cải và các cơ hội, để phân chia lợi ích và mở rộng quyền tự do cho con người. Tình trạng bất bình đẳng đang ngày càng trở nên nghiêm trọng bởi vì chúng ta đã quên đi những bài học ở giai đoạn hậu Thế chiến II. Về cơ bản, chúng đang đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng về phân bổ lợi ích và cơ hội.

Trong suốt gần 30 năm qua, toàn cầu hóa đã đóng một vai trò quan trọng trong việc làm giảm bớt tình trạng nghèo đói trên toàn cầu. Tuy nhiên, luôn có kẻ thắng người thua từ việc gia tăng thương mại và dịch chuyển nguồn vốn, cũng như từ những thay đổi kỹ thuật công nghệ. Và nhiều quốc gia, nổi bật nhất là Mỹ và Anh Quốc, đã thất bại trong việc đưa ra những chính sách điều tiết cần thiết. Trái ngược với những lời truyền bá chống toàn cầu hóa của các đảng cánh tả, chính quyền Mỹ và Anh Quốc đáng ra đã có thể đưa ra những chính sách đúng đắn; họ chưa bao giờ bị ngăn cản bởi “các thế lực toàn cầu hóa”. Và, đúng như những gì mà những người ủng hộ tự do hóa kinh tế của các đảng cánh hữu lập luận, tiến trình cầu hóa không đòi hỏi các chính phủ phải giảm trợ cấp cho xã hội, giảm bớt quyền hạn của các liên đoàn lao động, và giảm thuế đối với người giàu.

“Toàn cầu hóa” chưa bao giờ buộc chính quyền Mỹ và Anh phải nhân nhượng, giảm thuế cho các ông chủ tập đoàn lớn. Trong khi hầu hết các nước phát triển đang đối mặt với tình trạng những người giàu có nhất ngày càng giàu hơn nhanh chóng, không nơi nào trên thế giới chứng kiến những ông chủ tập đoàn bỏ túi một lượng tài sản khổng lồ như ở các nước Anglo-Saxon (Anh Quốc, Mỹ, Canada, New Zealand và Australia...).

Tương tự, chính sách cắt giảm thuế cho người giàu của Mỹ trong 35 năm qua là một chính sách nội địa, dưới danh nghĩa tạo động lực phát triển cho các doanh nghiệp. Dự luật “cải cách thuế” vừa được Đảng Cộng hòa thông qua là chính sách mới nhất trong tập hợp những chính sách cắt giảm thuế cho người giàu và doanh nghiệp. Những chính sách này vốn không chỉ thất bại trong việc kích thích đầu tư và tăng năng suất, mà còn góp phần đẩy tình trạng bất bình đẳng ở Mỹ lên mức báo động. Thực tế, chính quyền Mỹ chưa bao giờ bị ép buộc phải áp dụng những chính sách này để lấy lại niềm tin từ các nhà đầu tư quốc tế. Suy cho cùng, những quốc gia phát triển khác đã chọn lập trường phản đối những cải cách như thế và chưa hề rơi vào khủng hoảng vì lập trường ấy.

Người ta tin rằng, chính tình trạng nhập cư đã tác động tiêu cực lên mức lương của lực lượng lao động phổ thông, gây ra vấn đề chính trị nghiêm trọng không chỉ ở Anh Quốc. Tuy nhiên, có rất ít, nếu không nói là hoàn toàn không có, những bằng chứng chứng minh cho lập luận đó. Thực tế, việc cắt giảm phúc lợi xã hội và những thay đổi trong tín dụng thuế (tax credits) còn tạo ra một tác động lớn hơn rất nhiều lên thu nhập của người nghèo ở Anh Quốc, so với sự cạnh tranh từ dòng người nhập cư.

Toàn cầu hóa không phải là nguyên nhân khiến chính phủ các nước phương Tây phải áp dụng những chính sách tai hại như vậy. Các nước phát triển chưa bao giờ bị buộc phải “cạnh tranh” để giành lấy nguồn vốn đầu tư, trong một thế giới mà đã có những thị trường vốn toàn cầu. Một vài quốc gia Châu Âu quả thực bị hạn chế đẩy mạnh chi tiêu công để khắc phục tình trạng suy thoái kinh tế, nhưng đây chỉ là vấn đề trong quản trị của khối EU, không phải là do tác động của toàn cầu hóa.

Mặc dù như vậy, thực tế là toàn cầu hóa vẫn tạo ra những người thua cuộc. Nhưng điều này không có nghĩa tiến trình toàn cầu hóa là một hiện tượng xấu – hay bất cứ thứ gì tương đồng điều đó. Môt số người – có kiến thức sâu rộng hơn – đang tận hưởng lợi ích từ hoạt động tự do thương mại mà không phải chịu bất kỳ tác động nào từ hệ lụy của hoạt động này. Với một số khác, lợi ích và tổn thất có thể là cân bằng hơn.

Các chính phủ cần phải chi tiêu tiền nhiều hơn để hỗ trợ những khu vực, nơi mà các ngành công nghiệp lỗi thời đang bị càn quét bởi sự gia tăng của hoạt động thương mại quốc tế và những thay đổi kỹ thuật công nghệ. Một vài quốc gia đã thành công trong việc này, bằng cách chủ động đầu tư vào những chính sách đào tạo tay nghề, và cơ sở hạ tầng cho những khu vực bị ảnh hưởng. Một số quốc gia khác, điển hình là Mỹ và Anh Quốc, lại đang có chính sách thiếu hiệu quả hơn.

Vẫn có một số vấn đề đòi hỏi chính sách quản trị quốc tế chặt chẽ hơn. Các tập đoàn đa quốc gia thường đóng thuế ở nơi có thuế suất thấp thay vì đóng thuế ở nơi tạo ra doanh thu, hiện tượng này càng khuyến khích các chính phủ phải giảm thuế cho doanh nghiệp. Khi mất đi nguồn thu thuế từ doanh nghiệp, chính phủ sẽ phải tăng thu từ nơi khác, thường sẽ tăng thu thuế đối với người thu nhập trung bình và thấp và tăng thu thuế tiêu dùng. Toàn cầu hóa đã khiến cho những người có thu nhập cao tránh thuế dễ dàng hơn, bởi vì ngày nay người ta có thể đầu tư vào tài sản ở nước ngoài dễ dàng hơn, và thu nhập của những người giàu thường đến từ tài sản ở nước ngoài.

Các tập đoàn đa quốc gia cần phải bị đánh thuế ở nơi họ tạo ra dòng tiền hoặc giá trị gia tăng, không phải ở nơi có thuế suất thấp nhất. Phối hợp chặt chẽ hơn giữa cơ quan thuế của các nước sẽ khiến người giàu khó chuyển đổi tài sản ra nước ngoài hơn. Tuy nhiên, để siết chặt vấn đề này cũng cần cả một quá trình. Ở thời điểm hiện tại, chính phủ các nước có thể cũng cần làm nhiều hơn để đảm bảo tính công bằng cho hệ thống thu thuế trong nước, chẳng hạn như bằng cách tăng thuế đối với những tài sản cố định, như đất đai.

Trong một thập kỷ qua, tăng trưởng kinh tế đã diễn ra khá chậm, và chất lượng sống của các hộ gia đình trung lưu đã không được cải thiện hoặc thậm chí còn giảm đi, điển hình là ở Anh Quốc, trong khi cơ cấu xã hội thì đang chịu nhiều áp lực. Trách nhiệm cải thiện những xu hướng này không nằm trong tay của những nguồn lực toàn cầu xa vời, mà phần lớn thuộc về chính phủ các nước. Toàn cầu hóa không khiến cho chính phủ mất đi quyền lực. Ở những lĩnh vực mà chính phủ bị hạn chế quyền lực, Chính phủ có thể hợp tác để củng cố tầm ảnh hưởng của mình.

Nguồn: Prospect Magazine - HN

Từ khóa: Toàn cầu hóa, bất bình đẳng, cải cách thuế, trồn thuế, tập đoàn đa quốc gia, chính sách thuế.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008758404
Go to top