
Có một bài học mà chúng ta rút ra được từ những gì đang diễn ra, đó là các chuỗi cung ứng hiện tại cần trở nên bền vững hơn. Và khi ngày càng nhiều công ty cân nhắc việc dịch chuyển về lại nước Mỹ, sẽ có rất nhiều vấn đề cần quan tâm - không chỉ là về hoạt động kinh tế.
Chúng ta đã không lường trước được tình hình này. Ai có thể ngờ rằng thế giới sẽ trải qua một trận đại dịch và 3 năm chiến tranh thương mại không dứt? Mức độ rủi ro là vô cùng cao - nếu không nói là bất khả thi - để lên được một kế hoạch ứng phó, và nó chắc chắn là một hồi chuông cảnh tỉnh cho các doanh nghiệp trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, rủi ro nói chung - bất kể là lường trước hay không lường trước được - dĩ nhiên vẫn có những chiến lược để ứng phó. Bước đầu tiên là đánh giá lại hiện trạng của kế hoạch cắt giảm rủi ro, cũng có nghĩa là tự đặt câu hỏi: "chúng ta hiện đang phản ứng như thế nào?". Điều này bao gồm tự đánh giá xem thứ gì còn vận hành tốt - và không tốt.
Dựa trên cơ sở này, kế hoạch ứng phó với một "thảm họa không thể tránh khỏi tiếp theo" sẽ được lập ra. Bắt đầu bằng việc tái rà soát các chính sách, chẳng hạn như sản xuất tinh gọn, sản xuất toàn cầu, rủi ro từ nguồn cung ứng duy nhất, và khả năng di dời sản xuất về nội địa.
Trong 25 năm qua, những yếu tố như toàn cầu hóa, kinh nghiệm sản xuất tinh gọn, quản lý kho bãi, và dịch vụ khách hàng đã cách mạng hóa hoạt động chuỗi cung ứng. Từ sau những sự kiện như khủng bố ngày 11/9, thảm họa sóng thần Nhật Bản năm 2011, đình công tại cảng Los Angeles/ Long Beach (Mỹ) năm 2014, thảm họa núi lửa Iceland 2014, cuộc chiến thương mại 2017-2020, và hiện tại là đại dịch Covid-19, các nhà quản lý chuỗi cung ứng cuối cùng đã chịu quan tâm đến tính dễ tổn thương của chuỗi cung ứng và tìm cách giảm thiểu rủi ro.
Nếu có một bài học rút ra được từ việc này, thì đó là các chuỗi cung ứng cần trở nên bền vững hơn.
Phương pháp tinh gọn sản xuất
Đại dịch đã dạy cho chúng ta rằng, mặc dù các phương pháp "tinh gọn" có thể giúp cắt giảm chi phí cho chuỗi cung ứng - bằng cách cắt giảm đầu tư vào kho bãi và thu gọn quy trình vận hành - nhưng nó cũng đi kèm với một nhược điểm to lớn. Việc không có một cơ chế đảm bảo, cộng với quy trình "sản xuất tức thời" (Just-In-Time - sản xuất đúng sản phẩm, đúng số lượng, đúng thời điểm) có thể khiến công ty bị tổn thương bởi bất kì sự biến động nào trong chuỗi cung ứng.
Khi các nhà sản xuất phụ tùng xe hơi đóng cửa tại Vũ Hán hồi tháng 1, các nhà sản xuất xe hơi trên toàn thế giới đã phải chật vật tìm kiếm nguồn thay thế trong thời hạn vài tuần. Hyundai Mortors của Hàn Quốc đã phải tạm ngưng dây chuyền sản xuất trong tuần đầu của tháng 2, do thiếu hụt phụ tùng từ Trung Quốc.
Phương pháp sản xuất tinh gọn và 6-sigma (mô hình cải tiến năng suất) là hai phương pháp nổi tiếng và thông dụng nhất được dùng trong lĩnh vực sản xuất. Cả hai phương pháp này đều yêu cầu doanh nghiệp phải loại bỏ những hoạt động không tạo giá trị gia tăng, hao tốn thời gian và nguồn lực. Sản xuất tinh gọn còn tập trung vào cải thiện chất lượng, giao hàng đúng giờ, và cắt giảm chi phí. Tuy nhiên, những phương pháp này không cân nhắc đầy đủ hoặc chính xác những rủi ro tiềm năng mà nó tạo ra.
Để cân bằng rủi ro trong các mục tiêu cắt giảm chi phí và đầu tư kho bãi, doanh nghiệp cần có cái nhìn toàn diện hơn về mức độ rủi ro thực sự trong chuỗi cung ứng của họ. Điều này không chỉ bao gồm các mức độ rủi ro trong quản lý kho bãi, mà còn cả rủi ro từ nhà cung ứng.
Rủi ro từ nhà cung ứng
Các doanh nghiệp Mỹ hiện đã lĩnh hội được một kinh nghiệm mới - đó là chuỗi cung ứng sản xuất càng ít tốn kém thì rủi ro càng cao. Các nhà cung ứng nước ngoài thường đối mặt với vô số loại rủi ro chính trị, điển hình là thuế quan và chiến tranh thương mại, và thậm chí là rủi ro an ninh quốc gia.
Các doanh nghiệp Mỹ có thể đối mặt với tình trạng bị giao hàng chậm trễ hoặc bị hủy đơn hàng. Những nhà cung ứng trung gian cấp 2 và cấp 3 - những người giao hàng cho nhà cung ứng cấp 1 - cũng cần được đánh giá rủi ro. Các loại phụ tùng hoặc sản phẩm chỉ được cung ứng bởi một nhà sản xuất duy nhất thì luôn đi kèm với rủi ro cao.
Trước đây, việc đánh giá những nhà cung ứng độc nhất này thường chỉ tập trung vào yếu tố tài chính và sự sẵn lòng hợp tác của nhà cung ứng. Hiện tại, người mua còn phải cân nhắc đến khả năng nhà cung ứng bị ảnh hưởng bởi đủ thứ loại rủi ro như hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, các thảm họa tự nhiên khác - và thậm chí là đại dịch.
Một cách tiếp cận tốt nhất là xây dựng tiêu chí rủi ro và phương pháp đánh giá, tính điểm đối với mỗi nhà cung ứng. Doanh nghiệp nên bắt đầu với những nhà cung ứng quan trọng nhất, những nhà cung ứng độc nhất, và lâu năm. Việc này có thể hoàn thành dễ dàng, và một kế hoạch hành động sẽ được lập ra để đối phó với những thảm họa có thể xảy đến. Tóm lại, doanh nghiệp cần trở nên sẵn sàng hơn để sống sót qua những thảm họa tiếp theo.
Hiện đã có những phần mềm ứng dụng trí tuệ nhân tạo để giám sát tình hình thế giới và mạng xã hội, để sớm phát hiện ra những sự kiện rủi ro. Thực tế, công ty phần mềm Resilinc đã phát hiện được vấn đề ở Vũ Hán, Trung Quốc từ đầu tháng 1 và đã cảnh báo với các khách hàng của mình rằng vấn đề này là rất cấp bách. Những dạng cảnh báo sớm như vậy sẽ giúp doanh nghiệp có khởi đầu tốt hơn trong việc điều chỉnh chuỗi cung ứng.
Cân nhắc những địa điểm trên toàn cầu và di dời về nội địa
Xu hướng dịch chuyển sản xuất ra nước ngoài đã nở rộ với một tốc độ đáng kinh ngạc, đặc biệt là từ năm 2001, khi Trung Quốc gia nhập WTO. Việc đổ xô đầu tư vào Trung Quốc, do môi trường sản xuất giá rẻ, đã khiến nhiều nhà máy sản xuất ở Mỹ đóng cửa và làm mất đi hàng triệu việc làm. Doanh nghiệp đã ra quyết định dựa trên tiêu chí tiết kiệm chi phí, và không quan tâm đến những rủi ro tiềm năng, cũng như thiệt hại mà họ gây ra trên khắp nước Mỹ.
Cuộc chiến thương mại với Trung Quốc đã khiến cấu trúc chi phí của hàng nhập khẩu trở nên ít hấp dẫn hơn, và một số doanh nghiệp đã bắt đầu cân nhắc việc đưa dây chuyền sản xuất trở về nước Mỹ, hoặc ít nhất là lựa chọn những quốc gia khác như Việt Nam, Ấn Độ và Mexico làm những địa điểm sản xuất thay thế. Nhưng chỉ đến khi đại dịch Covid-19 bùng nổ, thì những rủi ro to lớn của chuỗi cung ứng mới lộ ra.
Chính phủ Mỹ đã cắt giảm lượng thiết bị bảo hộ y tế dự trữ, và không có động thái thu mua thêm từ nguồn cung chính của họ - Trung Quốc. Đáng buồn thay, chính phủ Mỹ đã để các tiểu bang và bệnh viện tư nhân tự tìm kiếm nguồn cung toàn cầu, khiến họ đối mặt với các rủi ro bị ép giá và lừa đảo. Và do ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại, và quan hệ xấu đi giữa Mỹ và Trung Quốc, các nhà cung ứng Trung Quốc cũng không sẵn lòng đáp ứng các đơn hàng từ Mỹ.
Ngành công nghiệp dược phẩm và sản xuất thiết bị y tế cũng lộ ra những hạn chế trong khâu sản xuất tại Mỹ, và sự lệ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc. Phần lớn các vật liệu sản xuất và thành phần dược phẩm quan trọng, chẳng hạn như chất kháng sinh, đều phải mua từ Trung Quốc.
Nếu chính phủ Mỹ quan tâm nhiều hơn đến những cảnh báo từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về rủi ro tiềm năng của đại dịch, nước Mỹ có lẽ đã được chuẩn bị tốt hơn, bằng cách tăng cường dự trự và tìm những nguồn cung thay thế.
Mới đây, chính phủ Mỹ đã bày tỏ sự quan tâm và dự định tài trợ để các chuỗi cung ứng sản xuất dược phẩm quay về nước Mỹ, nhằm tăng cường nguồn cung cho những trường hợp khủng hoảng y tế trong tương lai. Những doanh nghiệp như Paratek - một nhà sản xuất thuốc kháng sinh - đã chấp nhận dịch chuyển về lại Mỹ nếu được hỗ trợ tài chính từ chính phủ.
Tuy nhiên, chính phủ Mỹ vẫn có truyền thống tỏ ra miễn cường khi phải ép buộc doanh nghiệp thực hiện bất cứ việc gì - chính phủ thường để các động lực thị trường làm công việc này. Tuy nhiên lần này, rủi ro đã lộ ra và việc chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp dịch chuyển về nội địa có lẽ là động thái phù hợp nhất.
Rủi ro khi rời khỏi Trung Quốc
Khi các công ty cân nhắc việc di dời về lại Mỹ, có rất nhiều vấn đề cần quan tâm không chỉ trên khía cạnh kinh tế. Việc di dời nhà máy sản xuất khỏi Trung Quốc đi kèm với khá nhiều rủi ro tiềm năng, và thường không được chú ý đến trước khi quá muộn.
Điển hình là rủi ro về mức độ và năng lực sản xuất. Doanh nghiệp có thể sẽ nhận ra rằng chi phí nhân công ở Việt Nam và Indonesia thường thấp hơn 20% đến 30%, nhưng vấn đề yếu kém chất lượng và năng suất có thể khiến lợi thế chi phí tiềm năng biến mất. Việc thiết lập dây chuyền sản xuất mới cũng có thể mất nhiều thời gian hơn so với kỳ vọng, đặc biệt là khi doanh nghiệp đã thích ứng với năng lực sản xuất của Trung Quốc.
Những quốc gia khác cũng không đạt đến trình độ hoàn hảo như Trung Quốc. Trong một so sánh mới đây về ngành sản xuất giày dép giữa Trung Quốc và Việt Nam, doanh nghiệp phát hiện rằng chi phí nhân công tại Việt Nam rẻ hơn 30%, nhưng năng suất thấp hơn 20%, và chất lượng cũng là một vấn đề rất nghiêm trọng khi mà tỷ lệ hàng phải sửa lại cao hơn nhiều so với Trung Quốc.
Với việc có nhiều doanh nghiệp đang tìm đến những quốc gia làm địa điểm sản xuất thay thế, những nước như Việt Nam và Thái Lan đang bị quá tải số lượng yêu cầu, và họ đã bắt đầu từ chối một số đơn hàng từ những khách hàng mới. Cơ sở hạ tầng tại hầu hết quốc gia, chẳng hạn như đường xá, kho bãi, sân bay, và bến cảng có chất lượng thua xa những gì Trung Quốc đã xây dựng trong 25 năm qua.
Một vấn đề thường bị bỏ qua là chuỗi cung ứng của doanh nghiệp cũng cần phải dịch chuyển. Việc tái thiết nguồn cung và chuỗi cung ứng tại một quốc gia mới có thể mất nhiều tháng hoặc nhiều năm.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn đối mặt với rủi ro bị đánh cắp tài sản trí tuệ (IP) tại những nước khác. Nếu một công ty đang tìm cách tránh khỏi vấn đề trộm cắp IP ở Trung Quốc, họ sẽ phải cẩn thận với nơi mà họ hướng đến. Đánh cắp IP không phải là một vấn đề chỉ có riêng tại Trung Quốc. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng có hệ thống luật IP rất yếu, không thể bảo vệ doanh nghiệp Mỹ. Việc sản xuất hàng giả thường khá phổ biến ở các nước Châu Á, Trung Đông, và gần đây là tại Châu Phi.
Nếu doanh nghiệp không được đăng ký thương hiệu của mình tại Trung Quốc, hãy lưu ý vấn đề này. Thông thường, nhiều công ty Trung Quốc sẽ thay mặt công ty nước ngoài để đăng ký thương hiệu tại Trung Quốc, và tiếp tục sử dụng thương hiệu này sau khi công ty nước ngoài rời đi, và không ai có thể khiếu kiện về việc này.
Các loại tài sản trí tuệ liên quan đến sản xuất như thiết bị, khuôn mẫu, nhiều khả năng sẽ tiếp tục được sử dụng để tạo ra sản phẩm giống như của bạn sau khi bạn rời khỏi Trung Quốc. Sẽ rất khó, nếu không nói là bất khả thi, để thu lại những thiết bị và khuôn mẫu từ một cơ sở sản xuất ở Trung Quốc - ngay cả khi doanh nghiệp cho rằng họ là người sở hữu hợp pháp của những thiệt bị đó.
Đơn giản là vì khi công ty quyết định dừng hoạt động sản xuất sản phẩm của mình, các nhà máy của họ tại Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục sản xuất ra sản phẩm và bán chúng tại các thị trường nội địa và quốc tế với một nhãn hiệu chỉ khác đi một chút.
Rủi ro về hợp đồng lao động và giấy phép di dời
Doanh nghiệp có thể bị buộc phải nộp hồ sơ xin phép từ chính phủ Trung Quốc để được đóng cửa hoạt động của mình. Việc này có thế mất nhiều tháng, và công ty còn buộc phải trả lương đầy đủ cho tất cả nhân viên Trung Quốc theo đúng hợp đồng trước khi ngừng hoạt động.
Điều này có khả năng tốn kém và mất thời gian hơn dự kiến. Dĩ nhiên, doanh nghiệp có thể tự ý đóng cửa, tắt đèn, và đơn giản là rời bỏ khu sản xuất ở Trung Quốc. Nhưng nếu làm vậy, họ sẽ vĩnh viễn không được phép quay lại Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể sẽ không được cấp visa, hoặc thậm chí là bị bắt giữ nếu họ đặt chân đến Trung Quốc trong tương lai.
Rủi ro bị trả đũa
Các nhà sản xuất và cung ứng Trung Quốc có thể sẽ tức giận với doanh nghiệp vì bỏ rơi họ, và có thể sẽ tìm cách trả đũa. Họ sẽ cố tình làm chậm quá trình sản xuất và cung ứng đơn hàng, hoặc đơn giản là từ chối giao hàng, đặc biệt là nếu như bạn đã ứng tiền trước cho họ.
Đã từng có một trường hợp, một nhà thầu sản xuất đồ chơi Trung Quốc thường chuyển nhiều container hàng hóa phục vụ cho kỳ nghĩ lễ đến các nhà nhập khẩu/bán buôn tại Mỹ. Khi nhà nhập khẩu/bán buôn tại Mỹ tuyên bố họ sẽ dời dây chuyền sản xuất về lại Mỹ trong tháng 1, nhà thầu Trung Quốc đã từ chối giải phóng container khỏi cảng Long Beach (Mỹ)
Trước khi bạn quyết định, hãy cân nhấc tất cả các loại rủi ro.
Trước khi rời khỏi Trung Quốc và dịch chuyển sản xuất về Mỹ, doanh nghiệp cần phải xác định được tất cả những rủi ro tại địa điểm mới, cũng như rủi ro khi rời khỏi nơi sản xuất cũ.
Quyết định cuối cùng về việc di dời sản xuất về Mỹ, hoặc đến một quốc gia mới, hoặc thay đổi nhà cung ứng nước ngoài đều phải trải qua một quá trình cân đo dựa trên các yếu tố kinh tế và thương mại. Nhưng hiện tại, sau tất cả những sự kiện mà thế giới trải qua trong vài năm qua, những rủi ro và tổn thất mà nó tạo ra đã trở thành tâm điểm của sự chú ý.
Nguồn: Logistics Management
Từ khóa: Logistics, dịch chuyển chuỗi cung ứng, chiến tranh thương mại, đánh cắp tài sản trí tuệ, toàn cầu hóa
Các tin khác
- OECD muốn đạt được thoả thuận toàn cầu về thuế kỹ thuật số trong năm nay - 10/08/2020
- Hai bài học về hội nhập khu vực của ASEAN cho châu Phi - 10/08/2020
- Ngành dệt may trước EVFTA: Đau đầu bài toán xuất xứ và nguồn cung nguyên phụ liệu! - 10/08/2020
- Tận dụng từng khe thị trường để xuất khẩu nông sản - 10/08/2020
- Cơ hội cho Việt Nam trong chuỗi cung ứng mới của Australia - 10/08/2020






















