
Thông thường, mọi người cho rằng sự khác biệt về hội nhập khu vực giữa Đông Nam Á và vùng hạ Sahara đó là một bên hình thành dựa trên thị trường cùng những sáng kiến kinh tế, bên còn lại phụ thuộc vào quy trình chính trị dưới dạng hội nghị được điều hành của những lãnh đạo đầy quyền lực với những ngôn từ đao to búa lớn nhưng kết quả đạt được thì vô cùng khiêm tốn. Tuy vậy, phân tích sâu hơn cho thấy những nhận định này không đúng. Sự thành công của ASEAN không phải chỉ dựa trên yếu tố thị trường. Hiểu đúng về lý do dẫn đến sự thành công của ASEAN có thể giúp các khu vực khác đề ra những giải pháp đúng đắn trong quá trình kết nối liên quốc gia.
Nguyên nhân trọng yếu đầu tiên dẫn đến thành công của ASEAN chính là vai trò trung tâm của Nhật Bản trong việc thiết lập một mạng lưới sản xuất tại Đông Nam Á thông qua thúc đẩy thương mại khu vực. Nhật Bản đã theo đuổi sách lược “Đàn sếu bay” – mô hình giao thương được được xứ sở phù tang giới thiệu lần đầu trong thập niên 1930 và triển khai một cách cẩn trọng sau Chiến tranh thế giới thứ Hai. Một đặc trưng nữa của các công ty châu Á chính là yếu tố quản trị gia đình, đặc biệt là những doanh nghiệp gốc Hoa. Các nhà lãnh đạo châu Phi có thể học hỏi hai đặc trưng đã nêu của Đông Nam Á trong quá trình triển khai hội nhập kinh tế và chính trị khu vực. Điều này cũng giúp họ thay đổi quá trình liên kết vốn nặng tính ồn ào và chậm chạp sang một hình thái trầm lắng nhưng năng động, đồng thời thúc đẩy khu vực tư đóng vai trò chủ chốt trong liên kết vùng.
Bài học đầu tiên: Xây dựng lý thuyết, sau đó thực thi cẩn trọng
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có tuổi đời hơn 50 năm. Tổ chức này thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng-Cốc, Thái Lan. Các quốc gia sáng lập gồm có Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Qua thời gian, ASEAN kết nạp thêm Brunei Darussalam (1984), Việt Nam (1995), Lào, Myanmar (1997) và Campuchia (1999). Hiện tại có 10 nước là thành viên của Tổ chức liên kết lớn nhất Đông Nam Á.
Năm 1937, rất lâu trước khi ASEAN trở thành một cơ chế liên quốc gia đạt được nhiều thành công như chúng ta biết vào thời điểm hiện tại. Một học giả người Nhật tên là Kaname Akamatsu đã phát triển học thuyết Đàn sếu bay – trong đó đưa ra luận đề về cách thức Nhật Bản có thể đảm nhận vai trò dẫn đầu trong quá trình thúc đẩy phát triển khoa học tại Đông Nam Á. Ông Kiyoshi Kojima, một trong những người ủng hộ học thuyết này nhận định nếu xét về lợi thế so sánh, các quốc gia có thể hưởng lợi từ chuyên biệt hóa ngay cả khi có có cùng trình độ kỹ thuật và điều kiện tự nhiên, xã hội. Ông Kojima đã phát triển một mô hình đơn giản – cụ thể, hai nền kinh tế giống nhau có thể tạo ra hai sản phẩm trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo và quy mô kinh tế tương đồng. Lợi ích thu được sẽ lớn hơn nếu các nước liên kết (hợp tác) với nhau và mỗi quốc gia chỉ sản xuất một thay vì hai sản phẩm như đã đề cập. Học giả Kozima cũng cho biết những hiệp định cấp khu vực có thể khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ và nâng cao năng suất trên nền học thuyết Đàn sếu. Kết nối thương mại giúp tăng cường hợp tác thông qua giảm thiểu đối đầu trên thị trường hàng hóa, qua đó bước đầu khuyến khích đạo đức kinh doanh.
Các học giả xứ phù tang đã khái niệm hóa sự kết nối nêu trên bằng việc mô tả sự liên kết của những doanh nghiệp Nhật Bản thông qua cho thầu lại, nhượng quyền, liên doanh và đầu tư trực tiếp trên cơ sở liên kết vùng Đông Á. Những sáng kiến của họ giúp các nhà hoạch định chính sách và khu vực tư vạch ra kế hoạch hợp tác vùng. Nhóm chuyên gia cũng nhận định dòng tài sản và tài chính từ Nhật đổ vào các những quốc gia tiếp nhận sẽ giúp tăng cường kết nối kinh tế cho xứ phù tang và nhóm các nước ASEAN. Đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu từ thập niên 1970 và tăng tốc vào giữa thập niên 1980, tạo động lực cho quá trình tái cấu trúc kinh tế của quốc đảo phù tang – giảm quy mô những ngành thiếu tính cạnh tranh và dành nguồn lực cho những ngành có tiềm năng – đồng thời hỗ trợ quá trình chuyển đổi mô thức kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á.
Bài học thứ hai: xây dựng năng lực và giải quyết các hạn chế
Về vấn đề khuyến khích khu vực tư nhân giữ vai trò lãnh đạo trong hội nhập khu vực, các nước Phi châu có thể lấy kinh nghiệm từ cách thức những tập đoàn gia đình đưa mình vào vị trí trung tâm trong tiến trình liên kết vùng. Đầy tiềm lực cũng như tiến hành kinh doanh nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp gia đình đã thể hiện vai trò dẫn dắt trong cơ chế ASEAN+3 (10 quốc gia Đông Nam Á cùng Trung Quốc, Nhật bản, và Hàn Quốc). Những công ty kiểu này là nhân tố trung tâm của hoạt động quản lý, giúp tiến trình đưa ra các quyết định trở nên nhanh chóng, cũng như tạo ra cơ chế hợp tác tin cậy, uyển chuyển và gắn với thực tế. Yếu tố đã nêu nuôi dưỡng lòng tin – một nhân tố trung tâm trong mọi trường hợp, đặc biệt khi hệ thống hoạt động của các tổ chức liên quốc gia chưa đồng bộ hiệu quả.
Quan điểm của học giả Ronald Coase về cấu trúc danh nghiệp – được giới thiệu vào năm 1937 – như là cách thức giảm chi phí quản lý hệ thống – hoàn toàn tương thích với đề xuất lấy doanh nghiệp là nền tảng cơ bản trong xây dựng cấu trúc và điều hành những tổ chức liên kết vùng. Khi ông Henry Sy, một trong những doanh nhân người Hoa thành công nhất tại Philippines mời con và cháu của mình đến dùng bữa trưa vào ngày Chủ Nhật, 6 giám đốc điều hành của doanh nghiệp cũng cùng xuất hiện để thảo luận về chiến lược phát triển và vấn đề tài chính – như vậy, hoat động quản lý có thể diễn ra trong bầu không khí gia đình thân tình nhưng cũng không kém phần bí mật. Tập đoàn Charoen Pokphand (CP), doanh nghiệp lớn nhất tại Thái Lan với vốn hóa 5 tỷ USD – với xuất phát điểm là công ty chuyên kinh doanh hạt giống được thành lập bởi một doanh nhân Hoa kiều đã mở rộng hoạt động ra nhiều quốc gia. Hiên tại, CP có hơn 200 công ty tại Thái Lan, Indonesia, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Bồ Đào Nha, và Philippine. Những doanh nghiệp Phương Tây có hoạt động kinh doanh thành công tại Trung Quốc đại lục như Motorola, Coca-Cola, KFC, Lockheed, Chrysler, and Procter & Gamble đã thực hiện liên doanh với các doanh nghiệp gia đình, qua đó giúp việc tiếp cận thị trường hơn 1 tỷ dân của họ trở nên dễ dàng.
Tuy vậy, cơ chế như đã nêu có nhiều điểm bất lợi. Hầu hết các tập đoàn lớn vào thời đại hoàng kim tại Hoa Kỳ là những doanh nghiệp gia đình – yếu tố này khiến xứ cờ hoa trở thành nền kinh tế bất bình đẳng nhất thế giới trong thời điểm hiện tại. Ngày nay, tại hầu hết các quốc gia phát triển, các công ty công nghiệp lớn đều nằm dưới sự điều hành của một hội đồng đại diện nhiều cổ đông khác nhau. Ví dụ, chỉ khoảng 1/3 những doanh nghiệp trên sàn S&P 500 là các công ty gia đình. Vậy nhưng, trong bối cảnh tăng trưởng nhanh chóng tại những nền kinh tế đang phát triển, hãng tư vấn McKinsey nhận định vào năm 2025, các tập đoàn gia đình sẽ chiếm 40% tổng số công ty lớn toàn thế giới – so với chỉ 15% vào năm 2010. Đông Nam Á sẽ là khu vực có số lượng doanh nghiệp gia đình lớn nhất; trong khi đó, số doanh nghiệp loại này tại Phi châu vẫn chưa nhiều. Đây là điều các nhà lãnh đạo và kinh tế học lục địa Đen cần quan tâm nghiên cứu và đề xuất giải pháp.
Đàn sếu bay và doanh nghiệp gia đình tại châu Phi?
Luận thuyết đàn sếu bay nhấn mạnh vai trò của một quốc gia phát triển tiên tiến (ví dụ Nhật Bản) trong việc thiết lập vai trò dẫn dắt hội nhập của cộng đồng doanh nghiệp tại khu vực Đông Nam Á. Năm 2000, Hoa Kỳ ban hành đạo luật Phát triển và cơ hội cho Phi châu, một năm sau, Liên minh châu Âu thông qua cơ chế thương mại “Mọi hàng hóa – trừ vũ khí” áp dụng cho những nền kinh tế kém phát triển nhất. Với quy mô tiêu dùng lớn, những chính sách do Hoa Kỳ và EU thông đã và đang có tác động manh mẽ đến thương mại, tăng trưởng toàn cầu. Bên cạnh đó, trong bối cảnh châu Á đang nổi lên như một thực thể kinh tế lớn mạnh, khai thác cơ hội từ thị trường ASEAN+3 cũng là viễn cảnh đầy hứa hẹn, mở ra cơ hội cho các nước Phi châu có thêm lựa chọn khi thiết lập các mối quan hệ thương mại.
Nghiên cứu về những doanh nghiệp gia đình là yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp toàn cầu cũng như nhiều nhà đầu tư tiềm năng thành công tại những thị trường đang phát triển. Mô hình hội nhập khu vực tại vùng hạ Sahara có thể học hỏi từ cách thức những tập đoàn gia đình trong khối ASEAN+3 tạo lập ảnh hưởng của mình trong chuỗi kết nối sản xuất khu vực.
Một điểm mạnh của quá trình hội nhập ở Phi châu chính là hầu hết lãnh đạo thuộc Liên minh châu Phi đều quan tâm đến chủ đề này. Các nhà chính trị tại luc địa Đen cần học hỏi từ các đặc tính riêng của ASEAN nhằm biến tiến tình hội nhập khu vực từ ý thức chính trị thành chủ đề được dẫn dắt bởi khu vực tư nhân; các bài học đó là: hiểu biết về những doanh nghiệp gia đình và tăng cường hợp tác kinh tế với những thực thể kinh tế lớn trên quy mô toàn cầu nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh và sáng tạo.
Các nhà lãnh đạo luc địa Đen thích những mục tiêu lớn lao; do vậy, họ nên để tâm đến việc mời gọi sự hỗ trợ của những doanh nhân có tầm ảnh hưởng như Aliko Dangote, Baba Danpullo, và Nicky Oppenheimer trong nỗ lưc thúc đẩy hơp tác khu vực. Bước đầu tiên cần thực hiện chính là tổ chức nhóm “đa dạng hóa thương mại và đầu tư trong khuôn khổ quan hệ đối tác ASEAN-AFRICA” gồm những doanh nhân lớn cùng các chính trị gia tâm huyết của cả hai khu vực ASEAN và Phi châu. Tổ chức này có thể giúp nền kinh tế các quốc gia thuộc Phi châu tìm ra cách thức triển khai sách lược Đàn sếu bay – thông qua việc xác định những nhân sự chủ chốt và kêu gọi sự phối hợp của các doanh nghiệp gia đình tại ASEAN và Phi châu. Cơ chế trung tâm “Phát triển bao trùm và tài chính bền vững” tại Kuala Lumpur thuộc Ngân hàng Thế giới đang triển khai các bước để tạo lập mối quan hệ giữa hai khu vực.
Nguồn: Brookings
Từ khóa: ASEAN, châu Phi, hợp tác, doanh nghiệp gia đình
Các tin khác
- Ngành dệt may trước EVFTA: Đau đầu bài toán xuất xứ và nguồn cung nguyên phụ liệu! - 10/08/2020
- Tận dụng từng khe thị trường để xuất khẩu nông sản - 10/08/2020
- Cơ hội cho Việt Nam trong chuỗi cung ứng mới của Australia - 10/08/2020
- Việt Nam mang lại cơ hội mới cho doanh nghiệp Singapore - 10/08/2020
- Tận dụng cơ hội EVFTA vượt qua thách thức đại dịch: Thời điểm phù hợp - 10/08/2020






















