
Cuộc khủng hoảng COVID-19 về cơ bản đã thách thức khái niệm toàn cầu hóa.
Cho đến gần đây, toàn cầu hóa được coi là động lực chính của tăng trưởng kinh tế toàn cầu và đặc biệt là cắt giảm bất bình đẳng giữa các quốc gia. Toàn cầu hóa thường được coi là một cơ chế cùng có lợi cho cả các nước phát triển và đang phát triển.
Trọng tâm của toàn cầu hóa là sự mở rộng các chuỗi giá trị toàn cầu - phá vỡ quy trình sản xuất thành một loạt các bước tách biệt về mặt địa lý. Một số công đoạn, như thiết kế và marketing, nằm ở các nước phát triển. Những công đoạn khác, chẳng hạn như sản xuất và lắp ráp, được phân công cho các nước đang phát triển. Kỳ vọng là theo thời gian, các nước đang phát triển sẽ “leo lên các nấc cao hơn của chuỗi giá trị,” cho phép họ hội tụ với phương Tây phát triển.
Cuộc khủng hoảng COVID-19 về cơ bản đã thách thức khái niệm toàn cầu hóa. Nó đã phơi bày một cách tàn nhẫn những lỗ hổng tiềm ẩn của một hệ thống chỉ dựa trên việc cắt giảm chi phí. Lấy ví dụ, trường hợp của Thụy Sĩ. Phần lớn của cải của nước này đến từ ngành công nghiệp dược phẩm, vốn là động lực chính cho xuất khẩu của Thụy Sĩ. Cùng với hóa chất, dược phẩm chiếm khoảng một nửa xuất khẩu của Thụy Sĩ, vượt xa đồ trang sức, đồng hồ và các thiết bị đòi hỏi độ chính xác. Novartis và Hoffmann-La Roche là những công ty toàn cầu. Tuy nhiên, khi đại dịch coronavirus tấn công Thụy Sĩ, quốc gia này hoàn toàn không có sự phòng bị.
Vào đầu tháng 3, các dược sĩ khuyên công dân Thụy Sĩ nên tuân theo các biện pháp y tế cơ bản, như rửa tay và sử dụng nước rửa tay. Chỉ có một vấn đề: Thụy Sĩ không có dung dịch rửa tay, ở các hiệu thuốc cũng như trong các siêu thị. Coop, một trong hai chuỗi siêu thị lớn của đất nước (chuỗi còn lại là Migros), mất hơn bốn tuần mới có thể cung ứng dung dịch rửa tay cho khách hàng của mình.
Tình hình diễn ra tương tự với sản lượng khẩu trang. Cho đến nay, người ta đã xác nhận rõ rằng khẩu trang là một cách hiệu quả để ngăn chặn sự lây lan của virus, vốn thường phát tán theo những giọt nước bọt nhỏ. Sau cùng, việc nới lỏng các hạn chế phong tỏa phụ thuộc vào sự sẵn có của khẩu trang bảo vệ những ai mạo hiểm đi đến nơi công cộng. Trớ trêu thay, khi người Thụy Sĩ phát hiện ra điều này, không có một công ty nào ở nước này có thể sản xuất khẩu trang. Khẩu trang của Thụy Sĩ được nhập khẩu từ Đức, quốc gia mà, trước một đại dịch đang leo thang nhanh chóng, đã ngừng xuất khẩu mặt nạ cho các nước láng giềng.
Khiếm khuyết của toàn cầu hóa
COVID-19 đã bóc trần những khiếm khuyết của toàn cầu hóa - với những hậu quả tai hại. Toàn cầu hóa đã kéo theo hai chiều hướng phát triển trái ngược: phi công nghiệp hóa ở các nước phát triển và công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển. Trong nhiều năm, các công ty lớn ở Tây Âu và Bắc Mỹ đã chuyển giao các lĩnh vực cốt lõi trong hoạt động sản xuất của họ cho các địa phương ở nước ngoài. Sản xuất hàng hóa cơ bản như khẩu trang không có nhiều lợi nhuận, vậy nên tốt hơn nên để công việc này cho lao động Trung Quốc, Ấn Độ hoặc Việt Nam.
Hiện nay, họ đang trả giá - một mức giá lên tới hàng trăm tỷ đô la. Ơ Đức hiện tại, ngành công nghiệp dệt may hao gầy của đất nước đang được nhanh chóng tái trang bị để phân phối khẩu trang, vốn đang vô cùng cần thiết. Thật không may, họ thiếu các máy móc cần thiết để đi vào sản xuất. Các máy móc phải được mua từ Trung Quốc, như người Thụy Sĩ đã làm cách đây vài tuần, cho phép doanh nghiệp bắt đầu sản xuất sau lễ Phục sinh. Tuy nhiên, sự cần thiết, như họ nói trong tiếng Đức, là mẹ của sáng chế. Melitta, nhà sản xuất bộ lọc cà phê hàng đầu của Đức, vừa tuyên bố rằng họ đã trang bị lại và đang ở vị thế sẵn sàng sản xuất khẩu trang chống dịch.
COVID-19 là một hồi chuông cảnh tỉnh - hay ít nhất là như vậy. Từ lâu, các quốc gia đã từ chối bàn giao nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng của họ cho thế giới bên ngoài. Ngay cả ở Thụy Sĩ, một quốc gia phần lớn được bao phủ bởi núi và hồ, người tiêu dùng phải trả giá tương đối khủng khiếp cho các sản phẩm nông nghiệp trong nước để bảo hộ cho các nhà sản xuất trong nước. An ninh lương thực là điều cần thiết, như người Đức đã nhận ra trong Thế chiến I. Điều này giải thích tại sao người Trung Quốc đã nỗ lực rất nhiều để giành được quyền tiếp cận đất nông nghiệp ở châu Phi, làm dấy lên những cáo buộc chiếm hữu đất.
Trớ trêu thay, như cuộc khủng hoảng hiện nay đã chỉ ra, không có mối quan tâm tương tự nào liên quan đến chăm sóc sức khỏe. Các nước phương Tây không có chút băn khoăn nào đối với việc gia công sản xuất các nguyên liệu thiết yếu ở nước ngoài, nếu chỉ để tiết kiệm chi phí. Lấy trường hợp dược phẩm. Các công ty dược phẩm lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ đang tập trung vào phát triển và cấp bằng sáng chế các loại thuốc mới. Dẫu vậy, các thành phần chính của những loại thuốc này phần lớn được sản xuất tại Trung Quốc, sau đó chúng được phân phối trên toàn cầu. Kết quả là, ngay cả ở Đức, một quốc gia có hệ thống chăm sóc sức khỏe tuyệt vời, các phòng khám đã hết các loại thuốc quan trọng như thuốc giảm đau và thuốc kháng sinh.
Ngày nay, ngành y tế là ví dụ dễ thấy nhất về những khiếm khuyết cơ bản của toàn cầu hóa. Tuy nhiên, đó hầu như không phải là duy nhất. Lấy ví dụ, trường hợp của ngành công nghiệp ô tô Đức. Phần lớn quá trình sản xuất không được thực hiện ở Đức, mà là ở Trung Âu, đặc biệt là Slovakia. COVID-19 đã phá vỡ nghiêm trọng các mối liên kết này. Trong nhiều trường hợp, cuộc khủng hoảng đặt ra một mối đe dọa cơ bản đối với sự tồn tại của các nhà cung ứng của Đức ở nước ngoài, vốn đã chịu áp lực do tốc độ đổi mới và thay đổi công nghệ nhanh chóng trong ngành.
Đồng thời, tương lai của các nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Đức đã trở nên bấp bênh bởi sự bất định từ các nhà cung ứng của họ. Và các nhà sản xuất xe hơi hầu như không phải là những người duy nhất phụ thuộc vào môi trường quốc tế. Một cuộc khảo sát gần đây của một công ty tư vấn hàng đầu của Đức cho thấy, khoảng 80% các công ty mà họ khảo sát phụ thuộc vào các nhà cung ứng Trung Quốc. Điều này cho thấy rằng sự gián đoạn nghiêm trọng của đầu vào từ Trung Quốc có ảnh hưởng tai hại đối với các công ty ở Đức. Và Đức hầu như không phải là một trường hợp duy nhất. Trong vài thập kỷ qua, hầu hết các nước phương Tây tiên tiến đã gia tăng các hoạt động công nghiệp cốt lõi ở châu Á, trong tiến trình gia tăng đáng kể sự phụ thuộc của họ vào các nhà cung ứng ở nước ngoài.
Một sai lầm?
Cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy đây là một sai lầm. Trong trường hợp khẩn cấp, mọi người đều đã nhìn ra vấn đề. Chúng ta có thể không thích điều này vì nó có thể đi ngược lại với khái niệm toàn cầu hóa mà chúng ta tin tưởng. Tuy nhiên, như chúng ta đã phải chấp nhận nó sau những tuần gần đây, đó là một thực tế cay đắng.
Thực tế là toàn cầu hóa đã làm suy yếu chủ quyền quốc gia. Sự mất chủ quyền đã trở nên rõ ràng hơn khi các quốc gia có khả năng thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ của chính họ phải đối mặt với cái gọi là “tài chính hóa”. Trong một thời gian dài, việc mất chủ quyền đất nước được coi là một sự phát triển tích cực, miễn là nó dẫn đến hội nhập quốc tế và “tiến bộ xã hội”. Đại dịch hiện nay đã bóc trần những lỗ hổng vốn có trong một tiến trình mà về cơ bản phụ thuộc vào việc vận hành trơn tru đó.
Một nghiên cứu dư luận gần đây từ Pháp cho thấy rằng, chúng ta có thể đang trên bờ vực suy nghĩ lại về logic cơ bản đằng sau toàn cầu hóa. Khi được hỏi đâu là những bài học cho “giai đoạn sau” của cuộc khủng hoảng này, hơn 80% số người được hỏi đồng ý rằng châu Âu nên mang trở lại càng nhiều càng tốt các chuỗi giá trị sản xuất đã được gia công cho châu Á. Gần 70% nghĩ rằng các dịch vụ cơ bản (nước, năng lượng, giao thông vận tải) nên được quốc hữu hóa, và 70% cho rằng nên thu hẹp tầm ảnh hưởng của tài chính và cổ đông đối với các doanh nghiệp tư nhân. Những kết quả này kết hợp với những phát hiện trước đó cho thấy cuộc khủng hoảng COVID-19 đã làm tăng mức độ nhạy cảm của người Pháp đối với câu hỏi về bất bình đẳng và công bằng xã hội.
Những phát hiện này và những phát hiện tương tự cho thấy đại dịch COVID-19 thực sự có thể đánh dấu một bước ngoặt cơ bản trong lịch sử gần đây. Trong nhiều thập kỷ, cộng đồng quốc tế đã tham gia vào một cuộc tranh luận về bất bình đẳng xã hội và kinh tế, tính bền vững và công lý toàn cầu. Nhiều bài viết đã truy vấn về tất cả các chủ đề này – nhưng với rất ít thành công. Cám dỗ lợi nhuận khiến hoạt động kinh doanh vẫn diễn ra như thường lệ.
Sau khi cuộc khủng hoảng hiện tại kết thúc, những thách thức to lớn đối với nhân loại - chẳng hạn như biến đổi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu - những gián đoạn lớn như hạn hán, cháy rừng hoặc lũ lụt có thể quay trở lại là những vấn đề bình thường mới. Nhưng trong hoàn cảnh như thế, việc quay trở lại mô hình kinh doanh như thường lệ mới thực sự đáng gọi là thảm họa.
Nguồn: Fair Observer
Từ khóa: Toàn cầu hóa, chuỗi cung ứng, Covid-19, khủng hoảng y tế
Các tin khác
- Cái kết của toàn cầu hóa? - 25/04/2020
- Trong giai đoạn khủng hoảng, vai trò trung tâm của ASEAN là rất quan trọng - 25/04/2020
- Coronavirus có thể đảo ngược thỏa thuận thương mại Mỹ - Trung - 25/04/2020
- Trao đổi với TS Trần Đình Thiên nhân dịch Covid: Thách thức kinh tế - xã hội và cơ hội cải cách - 25/04/2020
- Coronavirus sửa lưng 'Toàn cầu hóa' như thế nào? - 24/04/2020






















