
Đông Nam Á đã từng vượt qua được một cuộc khủng hoảng tài chính, trong khi các nền kinh tế lớn nhất trên thế giới hoàn toàn sụp đổ. Nhiều bài học được rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á một thập kỷ trước cho phép khu vực này có đủ kinh nghiệm chuẩn bị tốt hơn cho cuộc khủng hoảng năm 2008.
Hiện tại, khả năng phục hồi của Đông Nam Á sẽ lại được thử nghiệm lần nữa trước đại dịch toàn cầu.
Ban đầu, các ca nhiễm Covid-19 tại các quốc gia Đông Nam Á chỉ ở mức thấp dù có vị trí địa lý khá gần với Trung Quốc. Trường hợp đầu tiên bị nhiễm được xác nhận ở Bangkok vào giữa tháng 1, sau đó, lần lượt có thêm các ca tại Singapore, Việt Nam, Malaysia, Campuchia và Philippines. Ngoại trừ hai trung tâm kinh doanh quốc tế của khu vực là Thái Lan và Singapore, chỉ có một số ít trường hợp dương tính được xác nhận trong suốt tháng Hai.
Vào tháng 3, tình hình đã thay đổi. Các ca nhiễm đầu tiên được phát hiện ở Malaysia sau một cuộc họp mặt tôn giáo với sự tham gia của 16.000 người. Các nước láng giềng cũng bắt đầu báo cáo sự gia tăng các sàng lọc tích cực. Tính đến ngày 6 tháng 4, hơn 16.000 trường hợp đã được xác định là dương tính trong khu vực. Con số này có khả năng còn cao hơn trên thực tế vì thử nghiệm bị hạn chế.
Mức độ chuẩn bị cho một cuộc khủng hoảng sức khỏe của các quốc gia có thể được đo lường qua kênh đầu tư. Sự chênh lệch về số tiền mà các nước ASEAN chi cho chăm sóc sức khỏe đặc biệt rõ ràng, ngoại trừ Singapore. Hệ thống chăm sóc sức khỏe của quốc đảo này được xếp hạng hàng đầu trên thế giới và mang lại kết quả tốt nhất. Năm 2017, Singapore đã chi 4.270 đô la cho việc chăm sóc sức khỏe của mỗi người, gấp hơn 20 lần chi tiêu của Lào. Đây là mức chi tiêu gần nhất với các nền kinh tế phát triển; các nước G7 chi trung bình 5.519 đô la trên đầu người.
Tại Malaysia - nơi có số ca nhiễm Covid-19 được xác nhận cao nhất trong khu vực (4.228 ca) - mức chi là 1.139 đô la, gần như chia đều giữa chi tiêu công và tư. Tại Lào, Philippines, Campuchia và Myanmar, chi tiêu công cho các hình thức chăm sóc sức khỏe chưa bằng một nửa tổng chi. Chính phủ Myanmar chỉ chi khoảng 15% tổng chi tiêu; Chính phủ Lào chỉ chi một phần ba. Công dân và người cư trú trả phần còn lại, thông qua bảo hiểm tư nhân hoặc tiền túi.
Tương tự Malaysia, chính phủ Singapore gánh vác khoảng một nửa chi phí chăm sóc sức khỏe. Điều này là nhờ hệ thống bảo hiểm y tế tư nhân cạnh tranh. Lao động không thường trú chiếm gần 30% dân số thành phố, nhóm đối tượng này thường chọn bảo hiểm tư nhân vì không được hưởng bảo hiểm y tế công cộng.
Thái Lan và quốc gia giàu nhờ dầu mỏ Brunei có mức chi gần 70% với mức trung bình của G7. Chính phủ Brunei chi 95% tất cả các chi phí chăm sóc sức khỏe. Thái Lan chi 76%. Brunei, Malaysia, Singapore và Thái Lan - bốn quốc gia có chi tiêu bình quân đầu người cao nhất cho chăm sóc sức khỏe - là những quốc gia duy nhất trong khu vực có bảo hiểm y tế toàn cầu.
Indonesia, Philippines và Việt Nam đang tiến tới bảo hiểm toàn phần, mặc dù nguồn quỹ tài trợ vẫn là một thách thức. Tất cả ba quốc gia chỉ chi hơn $ 350 mỗi người cho chăm sóc sức khỏe. Từ 2013-17, cả Campuchia và Việt Nam đã dành một phần GDP cho y tế.
Myanmar cũng tăng dần khoản chi cho y tế vào đầu thập kỷ, nhưng đã giảm dần trong những năm gần đây. Singapore và Brunei cũng tăng mức chi, nhưng mức chi ở các quốc gia khác vẫn không đồng đều. Số liệu sau năm 2019 có thể không còn chính xác.
Những con số này chắc chắn sẽ tăng lên như một sự phản ánh của việc tăng trưởng chậm hơn - nếu có - và tăng chi tiêu y tế được kích hoạt bởi đại dịch.
ASEAN đang tham gia vào một trận chiến chống dịch có nguy cơ lây nhiễm cao. Năm 2018, khu vực này chiếm 44% trong tổng số các trường hợp mắc bệnh lao mới. Lao là một bệnh do vi khuẩn, về cơ bản khác với virus Covid-19, nhưng có thể lây lan theo cùng một cách. Mặc dù đã tìm ra cách chữa trị nhưng bệnh lao vẫn giết chết khoảng 1 triệu người trên toàn thế giới mỗi năm, đáng mừng là con số này đang giảm dần.
Để ngăn chặn sự lây lan của Covid-19, một số nhà lãnh đạo ASEAN đã tiến hành phong tỏa đất nước.
Đầu tiền là Philippines. Người dân Manila bị cách ly cộng đồng vào giữa tháng ba, sau đó là toàn bộ đảo Luzon, nơi sinh sống của hơn 50 triệu người. Cũng vào thời điểm đó, Malaysia cũng tiến hành cách ly.
Chính quyền khu vực ở Indonesia - quốc gia lớn nhất ở Đông Nam Á - cũng đã áp dụng phong tỏa một phần. Theo đó, các trường học và văn phòng ở Jakarta sẽ đóng cửa trong ít nhất hai tuần. Chính phủ trung ương cũng đã công bố kế hoạch hạn chế giờ giao thông công cộng và sự giảm lưu lượng hành khách di chuyển.
Thái Lan tuyên bố tình trạng khẩn cấp bắt đầu từ ngày 26 tháng 3, cấm nhập cảnh đối với người nước ngoài và hạn chế vào hoặc ra Bangkok. Ngày lễ Songkran - năm mới truyền thống của Thái Lan - cũng được hoãn lại và nhiều nơi công cộng cũng phải đóng cửa. Giống như Indonesia, chính quyền các tỉnh đã thực hiện các kế hoạch cách ly riêng của họ.
Ban đầu Việt Nam có vẻ như đã ngăn chặn được sự lây lan của dịch bệnh, tuy nhiên sau đó cũng phải tuyên bố cách ly xã hội trong vòng 15 ngày bắt đầu từ ngày 1 tháng Tư. Singapore đã đóng cửa các trường học và nơi làm việc không thiết yếu từ ngày 3 tháng 4, nhưng lại tránh sử dụng từ "phong tỏa". Ngay sau đó, nước này đã cách ly gần 20.000 công nhân ở hai khu nhà tập thể có liên quan đến ít nhất 90 ca nhiễm virus.
Các biện pháp cách ly xã hội đã chứng minh rõ hệ quả tác động. Nhu cầu trong nước giảm, thị trường gián đoạn, các nền kinh tế phụ thuộc vào du lịch và xuất khẩu phải đối mặt với mức kỳ vọng tăng trưởng thấp.
Vào ngày 17 tháng 3, sàn giao dịch chứng khoán Philippines đã đình chỉ tất cả giao dịch trong hai ngày sau khi có thông báo về việc kiểm dịch mở rộng. Cùng ngày, Bangko Sentral ng Pilipinas đã cắt giảm 50 điểm cơ bản tỷ lệ chính sách xuống còn 3,25%; sau đó, công bố kế hoạch mua chứng khoán chính phủ trị giá 5,8 tỷ đô la để tài trợ cho công tác ứng phó Covid-19 của chính phủ. Bộ trưởng Tài chính của nước này cũng xem xét hạ kỳ vọng tăng trưởng bằng 0 vào năm 2020 và hy vọng nền kinh tế sẽ phục hồi ít nhất 1%.
Tương tự Philippines, Thái Lan đã giảm tỷ lệ chính sách của mình 25 điểm cơ bản xuống 0,75% sau khi đã cắt giảm trước đó vào tháng 1. Ngân hàng Thái Lan cũng đã mua 4,4 tỷ đô la nợ chính phủ, có thể xem đây là gói kích thích tiền tệ đầu tiên. Sau đó, chính phủ đã phê duyệt gói tài chính trị giá 12,7 tỷ đô la để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như cung cấp tiền mặt cho người lao động trong khu vực phi chính thức. Tiếp theo là gói thứ ba kết hợp các biện pháp chính sách tài chính và tiền tệ trị giá 58 tỷ đô la. Thái Lan kỳ vọng nền kinh tế sẽ phục hồi lên tới 5,3% vào năm 2020. Du lịch chiếm gần 20% nền kinh tế Thái Lan.
Bộ thương mại Singapore công bố ước tính dự đoán nền kinh tế sẽ giảm tăng trưởng 10,6% so với quý trước. Đây là mức giảm tồi tệ nhất kể từ năm 2010. Như vậy, mức tăng trưởng sẽ giảm 2,2% so với năm trước. Các nhà hoạch định chính sách đã hạ mức kỳ vọng tăng trưởng năm 2020 xuống từ -4% đến -1%.
Để giảm bớt cú sốc, chính phủ Singapore đã công bố ba bộ gói kích thích tài khóa với tổng trị giá 41,8 tỷ đô la. Đây là mức chi lớn hơn bất kỳ gói hỗ trợ nào mà nhà nước từng đưa ra trong các cuộc khủng hoảng trước đó, bao gồm các khoản thanh toán bằng tiền mặt cho tất cả người lao động (có việc làm, lao động tự do hoặc nghỉ việc do Covid-19). Về nguyên tắc, Tổng thống Halimah Yacob đã ủy quyền cho chính phủ khai thác khoản dự trữ trong quá khứ với số tiền lên tới 14,7 tỷ đô la để tài trợ cho gói cứu trợ.
Cơ quan tiền tệ Singapore, sử dụng tỷ giá hối đoái làm công cụ chính sách của mình, đã giảm tỷ lệ tăng giá xuống 0 và hạ thấp điểm giữa của dải tiền tệ để giúp giữ giá ổn định và hỗ trợ nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu. Ngân hàng trung ương cuối cùng đã hạ dải băng trên thị trường chứng khoán vào năm 2009. MAS cũng tuyên bố thành lập một cơ sở hoán đổi trị giá 60 tỷ đô la với Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp vay đô la ở Singapore.
Giữa tháng 3, các quan chức y tế cấp cao của chính phủ ASEAN đã tiến hành một hội nghị đặc biệt kéo dài sáu giờ thông qua cuộc gọi video để trao đổi thông tin về cách các quốc gia phản ứng, từ đó xác định những hỗ trợ kỹ thuật mà các thành viên đang cần.
Đây không phải là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo quốc gia gặp nhau trong bối cảnh khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng thông qua trực tuyến. ASEAN +3, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản và HànQuốc, trước đây đã hợp tác để cùng thảo luận về dịch SARS, H1N1, Ebola, Mers-cov và Zika.
Nói chung, vẫn cần quan sát xem liệu ASEAN có hợp tác hành động mạnh mẽ hơn ngoài sự phối hợp và tham vấn để ứng phó với Covid-19 hay không. Khối ASEAN - được hình thành vào cuối những năm 1960 một phần để làm dịu mối quan hệ địa chính trị căng thẳng giữa các thành viên - luôn đặc biệt lưu tâm đến việc tôn trọng độc lập và chủ quyền của mỗi quốc gia thành viên. Khối này thường xuyên tạo ra các thỏa thuận và hiệp ước nội bộ nhưng không có cơ chế để thực thi chúng một cách nghiêm ngặt.
Covid-19 sẽ áp đảo các hệ thống chăm sóc sức khỏe, phá vỡ thương mại toàn cầu và cản trở sự tăng trưởng. Khả năng phục hồi của ASEAN sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Sự hợp tác nội khối ASEAN trong điều kiện chênh lệch lớn về tài nguyên chăm sóc sức khỏe và khả năng y tế giữa các quốc gia thành viên là điều cần thiết hơn bao giờ hết. ASEAN cần phải xem xét hợp tác hành động mạnh mẽ hơn để ngăn chặn đại dịch.
Nguồn:https://www.omfif.org
Từ khóa: bài kiểm tra, khả năng phục hồi, ASEAN
Các tin khác
- Virus Corona có thể là bài kiểm tra lớn nhất trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Việt Nam - 15/04/2020
- Chính sách sai lầm của Mỹ về việc đối phó với Trung Quốc: Sự cần thiết cho các chiến lược thông tin và thương mại kiểu mới - 15/04/2020
- Thủ tướng trả lời về kết quả HN Cấp cao Đặc biệt ASEAN và ASEAN+3 về Ứng phó dịch COVID-19 - 15/04/2020
- Nhìn thấy cơ hội trong thách thức - 14/04/2020
- Xuất khẩu gạo – Bài toán giải rồi vẫn lo - 14/04/2020






















