JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếKết quả của các cuộc đàm phán thương mại thì khó dự đoán, nhưng bản chất toàn cầu hóa trong sản xuất vẫn không thay đổi

Kết quả của các cuộc đàm phán thương mại thì khó dự đoán, nhưng bản chất toàn cầu hóa trong sản xuất vẫn không thay đổi

congnhancokhi0201

Tác giả: Willy Shih – Trường kinh doanh Harvard

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đang chiếm hết tâm trí của nhiều nhà sản xuất. Khi các cuộc đàm phán giữa hai nước đang diễn ra, chúng ta cần phải ghi nhớ một số lực lượng kinh tế đã mang chúng ta đến vị trí ngày hôm nay. Từ đó, chúng ta có thể đánh giá được các ảnh hưởng có thể xảy ra, cho dù hai bên có đạt được thỏa thuận như thế nào đi chăng nữa.

Khái niệm đầu tiên là tính thương mại (tradable – có thể mua bán được giữa các nước). Hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ đã phát triển đến mức nơi sản xuất cách rất xa nơi tiêu thụ. Phần lớn mọi sản phẩm chế tạo đều giao thương được. Ví dụ, giàn khoan dầu ngoài khơi thường cách rất xa nhà máy lọc dầu. Các nhân tố quan trọng nhất quyết định tính thương mại của sản phẩm là chi phí vận tải và tính dễ hỏng sản phẩm. Những sản phẩm cồng kềnh và giá trị tương đối thấp thường không giao thương được, vì chi phí vận chuyển đường dài chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng giá trị sản phẩm. Những sản phẩm giá trị cao như chất bán dẫn, máy tính xách tay, điện thoại và quần áo thì giao thương được. Các sản phẩm dễ hỏng như bê tông trộn sẵn phải được sử dụng ngay trong vài giờ, thì không có tính thương mại cao. Mãi cho đến khi container vận chuyển kiểm-soát-được-nhiệt-độ ra đời, hoa tươi, trái cây tươi và rau củ mới dễ dàng được trao đổi giữa các nước. Tuy nhiên, điều đó đã thay đổi. Một nhà quản lý tại PSA, nhà khai thác cảng container tại Singapore, đã nói với tôi rằng ngày nay người tiêu dùng có nhu cầu ăn những trái cây và rau củ trái mùa. Việc này đã thúc đẩy nhiều mô hình thương mại mới, như xuất khẩu cá hồi từ Ấn Độ Dương đến Bắc Mỹ, hay xuất khẩu trái cây từ Chi Lê sang bán cầu Bắc vào mùa đông.

Tính thương mại là một yếu tố quan trọng cần cân nhắc khi thiết kế các chuỗi cung ứng, vì nhà quản lý phải cân đối giữa giá trị sản phẩm với các chi phí vận tải và chi phí tồn kho. Dễ hiểu tại sao những chiếc iPhone hay dược phẩm được vận chuyển bằng đường hàng không, vì chúng có giá trị quá lớn so với số lượng và trọng lượng sản phẩm. Nội thất cần vận chuyển bằng đường biển vì giá trị sản phẩm thấp so với trọng lượng sản phẩm. Đối với những nhà bán lẻ như Inditex và chuỗi cửa hàng Zara (một thương hiệu của Inditex), hàng hóa thời trang của họ phải được vận chuyển bằng đường hàng không vì chu kỳ những sản phẩm này ngắn nên thời gian vận chuyển phải nhanh. Tuy nhiên, vận tải bằng đường biển vẫn chiếm ưu thế do chi phí thấp hơn. Công ty Maersk của Đan Mạch, với sự cải cách tiên phong trong vận tải tàu biển, đã góp phần phát triển ngành thương mại như ngày nay.

Tại Mỹ, các lĩnh vực lớn nhất không thể thuê ngoài lao động từ nước ngoài là chính phủ và y tế. Các dịch vụ như kế toán, tổng đài và hỗ trợ công nghệ thông tin thì vẫn có thể thuê ngoài lao động nước ngoài nhờ chi phí viễn thông và Internet thấp. Ví dụ, công ty tư vấn quản lý McKinsey& Company, đã đặt hàng một doanh nghiệp Ấn Độ chuyển các biểu đồ của họ thành Powerpoint ngay trong một đêm.

Kinh doanh chênh lệch giá trong lao động (Labor Arbitrage) là sự di chuyển của việc làm trong các ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ từ những vùng có chi phí cao sang những vùng có chi phí thấp. Cơ hội để kinh doanh chênh lệch từ lao động được tạo ra nhờ chi phí đi lại giảm và việc xóa bỏ các rào cản thương mại. Một trong các rào cản điển hình đó là hạn ngạch nhập khẩu (quota), chẳng hạn như Hiệp định dệt may đa phương (Multi Fibre Agreement) mà các nước phát triển từng áp dụng để bảo hộ việc làm nội địa bằng cách giảm nhập khẩu hàng dệt may (hiệp định đã hết hạn vào ngày 1/1/2005), và thuế quan. Trong quá khứ, chi phí viễn thông là một rào cản quan trọng ngăn cản hoạt động kinh doanh chênh lệch giá trong lao động, tuy nhiên theo thời gian việc kết nối viễn thông và Internet giá rẻ đã tạo ra nhiều việc làm có thể được thực hiện trực tiếp trên máy tính hoặc thông qua điện thoại, như nhân viên tổng đài. Kinh doanh chênh lệch giá từ lao động có thành công hay không phụ thuộc vào mức chênh lệch giữa chi phí tiền lương có đủ lớn để bù đắp cho chi phí đi lại, chi phí lưu kho, và các rủi ro liên quan do dây chuyền sản xuất đặt ở nước ngoài. Chẳng hạn như rủi ro sản xuất quá mức hoặc hàng tồn kho lỗi thời, các rủi ro này đặc biệt cao đối với các hàng hóa nhạy cảm với thời gian- như các sản phẩm điện tử, quần áo và những sản phẩm vòng đời ngắn khác.

Vào đầu những năm 2000, chênh lệch chi phí lao động giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ khá lớn – từ 40:1 trở lên. Từ cuối những năm 1990 đến năm 2010, hoạt động di dời nhà máy ra nước ngoài để tìm kiếm chênh lệch trong giá lao động là đặc trưng của thương mại quốc tế giai đoạn này. Thậm chí ngày nay, chênh lệch chi phí nhân công có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong giá sản phẩm. Khi chi phí nhân công tại Trung Quốc tăng, nhiều nhà sản xuất hàng dệt may đã dịch chuyển hoạt động sản xuất đến Việt Nam, Indonesia, Bangladesh và nhiều nơi khác. Kiếm lợi từ chênh lệch chi phí lao động cũng là lý do tại sao Thổ Nhĩ Kỳ đóng một vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất ô tô Đức.

Dùng vốn thay thế cho lao động hay lao động thay thế cho vốn là một vấn đề đi đôi với hoạt động kinh doanh chênh lệch giá trong chi phí lao động. Tại những khu vực chi phí đắt đỏ như Mỹ, những nhà sản xuất có thể tăng đầu tư máy móc thiết bị (vốn) và kỹ thuật tự động để cải thiện năng suất sản xuất bằng việc cắt giảm số lượng lao động trong dây chuyền sản xuất. Khi những nhà sản xuất dịch chuyển hoạt động từ khu vực chi phí cao sang khu vực chi phí thấp, họ thường sử dụng nhiều lao động hơn là đầu tư cho kỹ thuật tự động hay nhiều thiết bị tối tân khác. Đây là một hiện tượng phổ biến trong việc chuyển dịch nhà máy từ Mỹ sang Trung Quốc trong suốt cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000. Tôi nhớ chuyến thăm một nhà máy tại Đài Loan nơi sản xuất bo mạch chủ máy tính vào đầu những năm 1990. Giám đốc nhà máy đã kể với tôi về chi phí cao của máy công nghệ dán bề mặt (SMT), được sử dụng để đặt từng thành phần lên bảng mạch. Khi tôi hỏi ông đã lên kế hoạch gì để đối phó vấn đề này, ông nói công ty đã có một công nghệ mới gọi là HMT. Công ty đã lên kế hoạch thành lập một nhà máy tại Trung Quốc, thuê nhiều lao động 18 tuổi hơn và lắp đặt những linh kiện bằng tay. HMT viết tắt là “công nghệ gắn tay.”

Dùng lao động thủ công thay thế cho máy móc là biện pháp linh hoạt hơn, đây cũng là một lợi thế trong các thị trường chuyển động nhanh với vòng quay sản xuất ngắn. Lao động thủ công cũng sẽ sản xuất ra nhiều chất lượng sản phẩm đa dạng hơn, vì vậy các công ty Trung Quốc đã nghiên cứu gia công lại đại trà trên những sản phẩm lỗi để tăng lợi tức kinh doanh. Trong những năm tới, chi phí lao động ở các thị trường mới nổi gia tăng và việc tăng cường sử dụng công nghệ tự động hóa có khả năng làm giảm tỷ trọng của hoạt động thương mại dựa trên chi phí nhân công thấp.

Bên cạnh chi phí lao động, các chi phí liên quan đến yếu tố địa phương cũng là những điểm quan trọng cần cân nhắc. Những yếu tố này bao gồm giá đất để xây dựng nhà máy, tiền điện, giá nguyên vật liệu, thuế, và phí về môi trường và các phí khác. Các khoản trợ cấp cũng đóng một vai trò quan trọng. Tôi luôn tự hỏi tại sao giá thép sản xuất tại Trung Quốc lại rẻ hơn ở phương Tây, khi phần lớn quặng sắt và than cốc ở phương Tây được bán bằng giá thị trường toàn cầu, và thiết bị làm từ thép đa phần từ Đức hoặc Nhật, cũng tại mức giá thị trường. Chi phí lao động không phải là yếu tố then chốt- ví dụ, tại một tổ hợp luyện thép khổng lồ ở Thượng Hải, không có nhiều công nhân tại cơ sở sản xuất đã được tự động hóa rất cao này. Tuy nhiên đất đai và tiền điện được trợ cấp có thể giúp cân bằng phần lớn chi phí sản xuất tại Trung Quốc.

Chính sách của chính phủ, chẳng hạn các yêu cầu phải liên doanh với một công ty địa phương hoặc chuyển giao công nghệ để đổi lấy quyền tiếp cận thị trường- đây cũng là một loại chi phí cho các nhà sản xuất nước ngoài. Đây là những chi phí lâu dài và không được thể hiện trong giá cả trong ngắn hạn.

Môi trường thương mại toàn cầu 25 năm qua vận hành khá tốt. Rào cản thương mại được cắt giảm, và các bước nhảy vọt trong công nghệ viễn thông và sự hiệu quả trong vận tải đường biển và hàng không đã giúp mở rộng ngành thương mại. Các công ty đã khai thác các nguồn lực này và xây dựng chuỗi cung ứng toàn cầu kết nối chặt chẽ với các nhà máy trên khắp thế giới, xây dựng một mạng lưới phức tạp phụ thuộc lẫn nhau. Kết quả của các cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ- Trung thì khó dự đoán, song các lực lượng kinh tế được nêu ở đây sẽ không thay đổi.

Nguồn: Forbes

Từ khóa: toàn cầu hóa, đàm phán thương mại Mỹ-Trung, sự dịch chuyển thương mại, kiếm lợi từ lao động

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008754027
Go to top