
“Chia tay”, một từ khóa mới trong chính sách đối ngoại của Washington, nghe thật là nhẹ nhàng nếu so với hiện tượng quan trọng mà nó mô tả - sự chia cắt của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, Mỹ và Trung Quốc. Đối với Nhà Trắng, cụm từ này là sự mô tả tóm lược những cam kết của chính phủ, thông qua các chính sách thuế quan và những biện pháp trừng phạt khác, để rút các công ty Mỹ và kỹ thuật công nghệ của họ ra khỏi chuỗi cung ứng của Trung Quốc.
Tuy nhiên, với việc Mỹ không có một chiến lược kinh tế bao quát cho toàn bộ khu vực (châu Á), thật khó để hình dung làm thế nào mà sự chia tách giữa hai quốc gia sẽ đem lại kết quả tốt đẹp cho Mỹ và những nước đồng minh thân cận của Mỹ tại châu Á. Suy cho cùng, thay vì đưa hoạt động kinh doanh ra khỏi Trung Quốc, Mỹ có lẽ phải đảm bảo rằng chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục duy trì tại đây.
Như những gì mà Henry Paulso, cựu chủ tịch Goldman Sachs và trước đó là Bộ trưởng Bộ Ngân khố Hoa Kỳ, đã nêu ra trong một bài phát biểu vào tháng 11: “Tôi nhìn thấy khả năng ra đời của một Bức màn sắt mới (Iron Curtain) trong nền kinh tế. Nó sẽ là những bức tường ngăn cách các bên, và phá dỡ hệ thống kinh tế toàn cầu mà chúng ta từng có.”
Châu Á là ngôi nhà của những chuỗi cung ứng quan trọng nhất trên toàn cầu – từ đồ điện tử đến dệt may, từ công nghệ thông tin đến xe hơi – hệ thống này phân phối đến rất nhiều quốc gia. Do bản chất của những mối liên kết xuyên biên giới này, và Trung Quốc giữ vai trò trung tâm bên trong nó, nên một cuộc chiến thương mại với Bắc Kinh cũng chẳng khác gì một cuộc chiến thương mại với Châu Á.
Mô hình Công xưởng Châu Á này – đã từng giúp các nước đang phát triển trưởng thành trong thời đại toàn cầu, bắt đầu với Nhật Bản trong những năm 1950 – có lẽ đang hướng đến bờ sụp đổ. Chỉ riêng điều này cũng đủ khiến nhiều quốc gia và doanh nghiệp cảm thấy lo lắng.
Mỹ có nhiều lý do (dù một số có phần gây tranh cãi) để áp dụng đường lối cứng rắn hơn trong quan hệ thương mại với Trung Quốc. Những lý do này có thể gồm: nhằm làm hài lòng những tư tưởng bảo hộ trong nước, bảo vệ những nguồn lực và kỹ thuật công nghệ quan trọng, thúc ép Trung Quốc mở cửa thị trường, và bảo vệ an ninh quốc gia trước sự bành trướng của Trung Quốc.
Mức thặng dư thương mại khổng lồ của Trung Quốc với Mỹ dường như chỉ ra rằng Washington sẽ có lợi thế lớn hơn Bắc Kinh trong cuộc chiến này, điều mà Donald Trump thường nhấn mạnh như một lý do sẽ giúp Mỹ thắng mọi cuộc chiến thương mại với Trung Quốc. Tuy nhiên, quan điểm ấy lại bỏ qua nhiều xu hướng lớn trong khu vực, bắt đầu tư một thực tế rằng sức sống của nền kinh tế Trung Quốc đang ngày càng ít lệ thuộc vào Mỹ, và Trung Quốc đang ngày một đan xen chặt chẽ hơn với Châu Á.
Hiện tại, giá trị thương mại song phương với Mỹ chiếm 14% trong các dòng chảy thương mại của Trung Quốc. Tỷ lệ giá trị gia tăng của Mỹ trong hàng xuất khẩu Trung Quốc thực tế đã giảm từ mức 30% vào năm 2002, khi Trung Quốc vừa gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, xuống còn 20% vào năm 2011. Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ, trở thành quốc gia có kim ngạch thương mại lớn nhất thế giới, và tăng trưởng GDP của Trung Quốc cũng ngày càng ít phụ thuộc vào xuất khẩu.
Tỷ lệ thương mại trên GDP của Trung Quốc là 38%. Trong khi đó, tỷ lệ này của Việt Nam là 200%. Điều này cho thấy Trung Quốc ít bị ảnh hưởng hơn từ những tác động của một cuộc chiến thương mại song phương. Tuy nhiên, cả khu vực Châu Á rộng lớn, khu vực có ý nghĩa chiến lược quan trọng với Mỹ, lại có thể bị ảnh hưởng nhiều hơn.
Như hiện tại, kim ngạch thương mại hàng năm giữa Trung Quốc với khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương là 2,5 nghìn tỷ USD, cao hơn 70% so với mức kim ngạch thương mại 1,4 ngìn tỷ USD của Trung Quốc với Mỹ. Một nghiên cứu của Viện Lowy cho thấy tầm quan trọng của Mỹ như một thị trường xuất khẩu cho các nước Châu Á đang suy giảm, song hành với sự gia tăng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc. Trung Quốc chiếm trung bình 24% trong giá trị xuất khẩu của 24 nước Ấn Độ - Thái Bình Dương, và Mỹ chỉ chiếm 12%.
Nói cách khác, nền kinh tế của các nước Châu Á còn lại, phụ thuộc vào Trung Quốc cũng nhiều như phụ thuộc vào Mỹ.
Hồi đầu tháng 10 năm nay, Phó tổng thống Mỹ Mike Pence đã giải thích về chính sách mới mà Mỹ áp dụng với Trung Quốc xuất phát từ nhận thức chung của cả hai Đảng rằng cuộc chiến với Bắc Kinh sẽ không thay đổi được quyết tâm của Trung Quốc trong việc hất cẳng Mỹ khỏi Châu Á, và cạnh tranh toàn cầu với một thái độ thù địch.
Washington có lẽ đã đúng về điểm này. Từ khi hội nhập vào hệ thống toàn cầu, Bắc Kinh đã cho thấy một trình độ điêu luyện trong cách họ chơi trò chơi quyền lực với Mỹ. Tất cả mọi thứ đang diễn ra đã chứng minh cho điều này, từ việc họ dần dần lấn chiếm toàn bộ Biển Đông, đến việc đánh cắp tài sản trí tuệ và bảo hộ nền kinh tế nội địa, và biến mình thành một quốc gia hùng mạnh để chi phối cả thế giới.
Trên cơ sở đó, Mỹ cũng lập luận rằng quyết định chia tay vừa mà họ đưa ra là khá trễ. Những chính sách điển hình của Bắc Kinh, như “Made in China 2025”, đều hướng đến thay thế các công nghệ nước ngoài, đặc biệt là từ Mỹ, và nâng tầm trong chuỗi giá trị. Do đó, các quan chức Mỹ lập luận rằng nước này chỉ đang tìm cách bắt kịp với sự thay đổi của Trung Quốc, để bảo vệ công nghệ, kỹ thuật và những nguồn lực cần thiết cho an ninh quốc gia và sự tự về chủ kinh tế.
Một vài nền kinh tế trong khu vực có thể sẽ được lợi từ cuộc chia tay, bằng cách mời gọi các tập đoàn đa quốc gia di dời khỏi Trung Quốc đến nước họ. Đã có những bằng chứng cho thấy Malaysia và Đài Loan đang thực hiện chiến lược này. Tuy nhiên, với hầu hết các quốc gia, bao gồm cả những cường quốc công nghiệp và là đồng minh quan trọng như Nhật Bản và Hàn Quốc, chính sách chia tay cộng thêm chính sách “Nước Mỹ trên hết” là rất nguy hiểm. Những cường quốc Đông Á này xem mối ràng buộc về kinh tế giữa họ và Trung Quốc là một con đường sống cần được quy hoạch lại, chứ không phải cắt đứt.
Nước Mỹ đáng ra nên thử một cách tiếp cận khác - hợp tác với các đối tác khu vực và Châu Âu dựa trên những mối quan ngại chung, như việc Trung Quốc không tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ và tham vọng thâu tóm công nghệ. Thay vào đó, ông Trump lại cho thấy ý định đưa thế giới trở về một thời kỳ mà luật lệ toàn cầu ít quan trọng hơn quyền lực quốc gia.
Nếu trước đây Washington tiếp cận vấn đề bằng một chiến lược sáng suốt hơn, họ đã có thể củng cố sức mạnh cho cho một hiệp ước thương mại mà Trump đã bỏ rơi khi ông vừa lên nắm chính quyền, Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. Việc tái giá nhập hiệp định vẫn có thể đem lại cho khu vực một hệ thống luật lệ thực sự, thay thế cho hệ thống của Trung Quốc.
Một yêu cầu không phải bàn cãi là Mỹ cần tăng cường khả năng phòng vệ trước việc Trung Quốc khai thác những điểm yếu trong chuỗi cung ứng phức tạp. Tuy nhiên, chính sách chia tay có thể không mạng lại lợi ích gì mà còn tạo thêm nhiều rủi ro cho tất cả các bên.
Nguồn: South China Morning Post
Từ khóa: Toàn cầu hóa, chiến tranh thương mại, chủ nghĩa bảo hộ, xuất nhập khẩu, chuỗi cung ứng, quyền sở hữu trí tuệ
Các tin khác
- Gỡ rào cản phi thuế quan - 26/11/2018
- Phân tích: Những người chơi mới trong thế giới đô la hoá - 25/11/2018
- Hội nhập kinh tế là con đường một chiều - 25/11/2018
- Hội nhập kinh tế có thể nâng cao tiêu chuẩn sống ở miền Tây Ban-căng như thế nào? - 25/11/2018
- Phân tích: từ toàn cầu hóa đến khu vực hóa - 25/11/2018






















