JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếPhân tích: từ toàn cầu hóa đến khu vực hóa

Phân tích: từ toàn cầu hóa đến khu vực hóa

toancauhoa0607

Khi toàn cầu hóa mất đi sức hấp dẫn và quyền lực toàn cầu của Mỹ suy yếu, các quốc gia có thể sẽ quay sang hình thức khu vực hóa (sự liên kết giữa các nước trong khu vực) để bảo vệ lợi ích của chính mình.

Trên mọi phương diện, Mỹ giờ đây đã không còn đủ khả năng để trở thành một cường quốc toàn cầu không đối thủ cạnh tranh. Một cơ cấu quyền lực khác thì đang dần thay thế Hoa Kỳ.

Hệ thống đồng minh đi theo Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ 2 chỉ còn nằm trong những giá trị chung. Khối NATO đã bảo vệ nền dân chủ, và nền kinh tế thị trường tự do trước những thách thức từ các hệ thống cộng sản độc đoán và những nền kinh tế kế hoạch tập trung. Sự ủng hộ tinh thần từ trong nước và sự cảm phục từ bên ngoài đối với hệ thống này đã giúp mở rộng khối này hơn. Hoa Kỳ thì sẵn sàng cấp quỹ để hỗ trợ mô hình này. Trong phần lớn các thỏa thuận quốc tế, Mỹ đều tỏ ra sẽ sẵn sàng chia sẻ lợi ích chung với các đối tác đồng minh. Điều này thì thường không được bàn luận trong nước.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Pew: Ngày nay, rất ít người Mỹ cảm thấy rằng nước Mỹ đang đứng trên lợi ích của những nước khác, thông qua việc nước Mỹ đã rút ra khỏi Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu toàn cầu và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Thêm vào đó, nhiều nước trên thê giới cũng xem quyền lực của nước Mỹ như sự đe dọa lên tăng trưởng toàn cầu.

Trải qua nhiều thập kỷ, Hoa Kỳ đã là trung tâm tài chính thế giới mặc dù, thâm hụt tiết kiệm nước này đã lên đến 4% GDP. Các nước với thặng dư tiết kiệm đã đặt niềm tin vào các thể chế tài chính Mỹ và những cuộc giao dịch béo bở này đã giúp khuếch trương sức mạnh tài chính của Hoa Kỳ. Nợ- danh từ đã bị bỏ quên bấy lâu thì nay đang quay lại đe dọa đến khả năng tài chính của cường quốc này. Theo Bộ Ngân sách Quốc hội: Trong vòng 4 năm trở lại đây, gánh nặng lãi ròng sẽ nhảy lên 16% ngân sách Liên bang. Lãi ròng, được xếp vào mục chi tiêu tự do và chiếm khoảng 1/3 ngân sách Liên bang, tương đương gần 300 tỷ USD.

Mỹ được hưởng lợi từ toàn cầu hóa kinh tế, tuy nhiên tỷ trọng GDP của Mỹ trong tổng GDP toàn cầu thì lại đang giảm – từ 38% trong năm 1970 xuống còn 32% năm 2000, 28% trong năm 2008 và hiện nay chỉ còn 22%. Sức mạnh suy giảm giải thích tại sao nước Mỹ dưới thời chính quyền Trump áp dụng những chính sách ngoại giao như hiện nay. Những nền kinh tế chỉ rõ con đường cho sự vận hành của các siêu cường thế giới- liệu rằng toàn cầu hóa sẽ có lợi ích cho kinh tế và có ý nghĩa để tiếp tục vai trò của mình. Một phần lớn GDP toàn cầu đã từng kết hợp các lợi ích để chứng minh chi phí toàn cầu hóa kinh tế của Hoa Kỳ là dẫn đầu. Sự giảm sút trong tỷ lệ GDP có nghĩa là lợi ích ít hơn mặc dù các khoản phí vẫn giữ ở mức cao. Chính quyền Trump đang xem xét lại các lợi ích trên chi phí bỏ ra, thông qua việc giảm ký kết các thỏa thuận với các nước đồng minh. Chính quyền nào cũng sẽ có ít sự lựa chọn nhưng phải làm như vậy; tuy nhiên, có thể với một phong cách và cách ngoại giao khác.

Nếu không có sự tham gia và khả năng của Hoa Kỳ để thực thi các quy tắc, các quốc gia trên toàn thế giới sẽ dễ sa lầy vào các thỏa thuận khu vực.

Ba khu vực đang nổi lên là: Tây bán cầu, Đông Á có thể mở rộng ra Châu Á, và Châu Âu cộng thêm “các nước xung quanh đó.” Một câu hỏi đặt ra, cho đến nay chưa có ai trả lời, là liệu các mối quan hệ sẽ dựa trên quy tắc hay các quốc gia mạnh nhất sẽ đảm nhận vai trò lãnh đạo. Các khu vực bên ngoài những khu vực nêu trên đang gặp bất ổn, có thể kể đến. Nga, Trung Đông và Châu Đại Dương.

Chuỗi cung ứng toàn cầu đang dần dầnnhường đường lại cho các chuỗi cung ứng khu vực, đặc biệt là ở châu Á. Hiện nay, ngân hàng Phát triển Châu Á đã công bố số liệu cho thấy, kim ngạch thương mại hàng hóa và dịch vụ nội khối của châu Á đã tăng từ mức bình quân 5 năm qua là 55.9% lên thành 57.3% trong năm 2016. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Châu Á đã tăng lên 272 tỷ USD, trong đó FDI về mậu dịch thương mại tăng từ 48% năm 2015 lên 55% năm 2016. Hơn 20 năm trước, một nghiên cứu của Quỹ tiền tệ quốc tế cho rằng chu kỳ kinh doanh của châu Á đã bị tách khỏi chu kỳ kinh doanh của Mỹ.

Đối với Trung Quốc, lực lượng lao động đã đạt đỉnh trong năm 2015 và sẽ giảm xuống còn 825 triệu trong năm 2050. Chi phí lao động tăng sẽ khiến Trung Quốc mất đi ưu thế sản xuất thâm dụng lao động với giá thành rẻ. Các quốc gia khác đã khai thác hết cơ hội này, và trong tương lai, sẽ ngày càng nhiều nhà máy sản xuất dịch chuyển đến khu vực Nam Á, đặc biệt là Ấn Độ, nơi có lực lượng lao động sẽ tăng từ 800 triệu lên 1.1 tỷ trong năm 2050. Trung Quốc chỉ có thể khai thác lợi ích từ cấu trúc nhân khẩu học của mình cho đến năm 2015. Bây giờ đến lượt Ấn Độ.

Trung Quốc đang dồn hết sức lực để chuyển mình thành người đứng đầu về công nghệ, khuyến khích khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, đồng thời, đầu tư 320 tỷ USD để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế dựa vào dịch vụ. Chương trình “made in China 2025” của Trung Quốc nhắm đến mục điêu đưa Trung Quốc thành quốc gia dẫn đầu trong việc ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất. Trung Quốc cũng đã lên kế hoạch sẽ là người đi đầu về trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, kĩ thuật di chuyền và tái chế toàn bộ.

Câu hỏi là liệu Trung Quốc và Ấn Độ có tham gia hội nhập kinh tế khu vực hay không. Ấn Độ đang bị thâm hụt tiết kiệm. Do đó, Trung Quốc phải tìm nguồn tiền không chỉ để tài trợ cho việc tái cơ cấu của chính mình, mà còn để đào tạo lực lượng lao động của Ấn Độ, cộng với việc nâng cấp cơ sở hạ tầng của Ấn Độ. Nếu điều này xảy ra, thế giới sẽ có cơ hội được chứng kiến toàn cầu hoá kinh tế thắng thế, mặc dù dưới một dạng thức khác hẳn hiện nay. Nếu không, xác xuất có được một kết quả mỹ mãn là không cao. Điều quan trọng là phải đạt được cân bằng thương mại và đầu tư làm sao để Trung Quốc không là nước duy nhất hưởng lợi.

Sự ổn định của toàn cầu phụ thuộc vào việc Hoa Kỳ và Trung Quốc có xây dựng mối quan hệ dựa trên sự tôn trọng lợi ích của nhau, và liệu hai nước này có thể gạt sang một bên “cái tôi” của mình để giải quyết các tranh chấp hay không. Đây giống như lý thuyết trò chơi: Hai nước biết rõ cuộc xung đột, đặc biệt là cuộc xung đột quân sự, chắc chắn sẽ khiến nền kinh tế của cả hai tồi tệ hơn. Tuy nhiên, nếu dùng một cuộc xung đột có thể đe dọa nước còn lại, Mỹ có thể sẽ đẩy cuộc chiến này lên đến đỉnh điểm. Do vậy, cả Trung Quốc và Hoa Kỳ cần phải thận trọng đánh giá đối phương một cách chính xác để không phải là người thua cuộc trong trò chơi.

Hành vi của Trung Quốc nói lên một điều rằng chính phủ Trung Quốc biết giới hạn kinh tế của mình ở đâu, và nền kinh tế của họ không thể chịu đựng được một cuộc xung đột quá lớn với Hoa Kỳ. Hiện tại, Trung Quốc đang tập trung vào việc hiện đại hóa đất nước và tránh các mối nghi ngờ về việc thâu tóm quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong một cuộc họp với cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton, Chủ tịch Giang Trạch Dân đã báo cáo rằng nỗi sợ hãi lớn nhất của Trung Quốc là bất ổn xã hội nội bộ, ngầm truyền tải thông điệp rằng Trung Quốc sẽ không tha thứ cho hành vi phá hoại.

Có những lý do để tin rằng chính sách ngoại giao của Mỹ trong cuộc chiến thương mại là công cụ chiến lược nhằm định hình lại kinh tế Trung Quốc. Đến lượt mình, chính sách tái cấu trúc của Trung Quốc có thể sẽ bị tắt nghẽn, gây bất mãn trong nội bộ nước này. Tuy nhiên, những hành vi thương mại như vậy có thể là một con dao hai lưỡi. Kết quả còn tùy thuộc vào khả năng duy trì cuộc chơi của từng đối thủ. Doanh nghiệp Mỹ hiểu rằng kinh tế Hoa Kỳ đang gắn chặt với nền kinh tế toàn cầu. Theo chỉ số S&P Dow Jones, doanh số của các công ty S&P 500 gần một nửa là đến từ nước ngoài, người đứng đầu các công ty này có thể thực hiện đầy đủ chính sách đòn bẩy nhằm kiểm soát các chính trị gia đang ra sức đẩy thương chiến với Trung Quốc lên tới đỉnh điểm.

Nền kinh tế Mỹ có thể đủ mạnh để thắng thế trong cuộc đua kinh tế với Trung Quốc; tuy nhiên, kết quả này vẫn còn xa trong khi việc giảm tỷ trọng của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu và những nỗ lực mang tính hệ thống của chính quyền Trump trong phá hủy các thể chế kinh tế toàn cầu như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), điều này tạo ra hoài nghi liệu rằng Trung Quốc sẽ tuân thủ quy tắc toàn cầu hay không. Những nỗ lực của Mỹ để giành lấy quyền lực toàn cầu hay tham vọng thay thế Mỹ của Trung Quốc thì cuối cùng cả hai đều trở thành những đầu tàu kinh tế của thế giới.

Chính phủ các nước đánh giá các tổ chức / thể chế quốc tế không còn liên quan và không có khả năng cung cấp bảo mật nữa. Chủ quyền và an toàn của tất cả các nước cũng như nhân tố quyền lực mới như khủng bố và tin tặc thì đang tăng lên trong khu vực. Mỹ giờ đây không còn được xem như đàn anh trong đảm bảo trật tự của hệ thống toàn cầu, điều này đã đẩy nhiều quốc gia đến bờ vực khó khăn.

Thay vì chỉ biết dựa vào Mỹ như trước đây, một hoặc hai nền kinh tế lớn trong khu vực có thể thiết lập nền tảng cho các quốc gia nhỏ hơn. Cơ cấu thể chế có thể tạo ra sự hòa hợp nhất định giữa hệ thống pháp luật và mô thức bạo lực chính trị. Các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực sẽ quyết định chuyển đổi từ "đối tác bình đẳng" sang ủng hộ các đối tác mạnh nhất hoặc tàn nhẫn nhất. Nếu các khu vực và cường quốc hàng đầu tôn trọng nhau, hậu quả của một cuộc chiến lớn sẽ thấp hơn. Cuộc chiến ủy quyền có khả năng sẽ diễn ra trên diện rộng khi mà không có một nước lãnh đạo khu vực nào được đứng ra dẫn dắt hoặc ít nhất các lĩnh vực trọng tâm phát triển phải được xác định.

Quá trình chuyển đổi từ toàn cầu hoá sang khu vực hóa đang diễn ra và tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nếu chính phủ các nước cuối cùng không thể thống nhất với hệ thống lãnh đạo toàn cầu của Mỹ, các nước này có thể bị lôi kéo vào việc xác lập lại các ngành nghề trọng điểm đối với các nước láng giềng hoặc thu hồi những gì các nước này xem là bất lợi cho mình. Trong một số trường hợp, việc thiếu kiểm soát trong hành động đơn phương có thể leo thang thành hành động quân sự.

*Joergen Oerstroem Moeller là cựu thư ký tiểu bang thuộc Bộ Ngoại giao Hoàng gia Đan Mạch và là thành viên cao cấp thỉnh giảng tại Viện ISEAS Yusof Ishak ở Singapore. Ông cũng là một giáo sư trợ giảng tại Đại học Quản lý Singapore và Trường Kinh doanh Copenhagen và là cựu sinh viên danh dự của Đại học Copenhagen.

Nguồn:Eurasia Review

Từ khóa: toàn cầu hóa, Trung Quốc, chiến tranh thương mại, quyền lực toàn cầu của Mỹ, suy yếu, khu vực hóa, kinh tế tập trung, người dẫn dắt toàn cầu

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008753044
Go to top