
Quyết định của Tổng thống Trump về áp mức thuế cao đối với hàng hóa nhập khẩu đang gây phẫn nộ ở ba cấp độ.
Đầu tiên, cho dù việc Tổng thống Trump đồng ý miễn trừ cho một số quốc gia thì đây vẫn là một chính sách tồi. Hai là, việc áp thuế là một lời nhắn gửi đầy đe dọa rằng không ai đủ sức ngăn cản việc ông chủ Nhà Trắng đưa tính cách thất thường của mình vào trong các chính sách kinh tế. Ba là, cách mà các thể chế quyền lực khác ở Mỹ phản kháng lại chính sách của Tổng thống cho chúng ta thấy một bức tranh rõ ràng rằng đang có quá nhiều chính khách, cá nhân có tiếng nói tại Hoa Kỳ giữ thái độ nguyên tắc cứng nhắc trước những gì đang diễn ra-điều này khiến mọi thứ tồi tệ hơn.
Về mặt chính sách, sự thật là số lao động làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp khác đang sử dụng thép và nhôm làm đầu vào thì nhiều hơn số lượng việc làm trong ngành sản xuất thép và nhôm, vì vậy, thuế quan cao có thể gây tổn thương cho người lao động hơn là bảo vệ họ. Bên cạnh đó, việc áp thuế cao có thể kích động sự trả đũa thương mại từ các quốc gia khác.
Các thượng nghị sĩ Đảng Cộng Hòa trong Quốc hội Mỹ cho thấy họ không sẵn lòng phản đối các ý tưởng tồi tệ của Trump, bất chấp sự thật rằng ngài Tổng thống là người hoàn toàn chủ nghĩa thương tôn da trắng bạo lực, chính sách tài chính sai lầm hoặc những biện pháp tăng thuế bất ngờ. Mà trái lại, sự rụt rè của họ ngày một tăng.
Tuy nhiên, trong bài báo này tác giả sẽ tập trung vào phân tích vào khía cạnh thứ ba đã được đề cập tại phần trên liên quan đến sự nguyên tắc cứng nhắc từ giới chính khách nước Mỹ đặc biệt là về các chính sách thương mại. Việc các chính trị gia liên tục phủ nhận mặt trái của toàn cầu hóa đã giúp Tổng thống Trump có được thế thượng phong trong việc kiểm soát hoạt động thương mại quốc gia. Việc chối bỏ như trên thể hiện rằng giới trí thức nước này không chịu thừa nhận toàn cầu hóa tồn tại cả những mặt trái. Tiếp tục giữ thái độ này, họ đang chỉ làm tăng nguy cơ cho tương lai của toàn cầu hóa.
Thương mại và toàn cầu hóa thường xuyên cho thấy mình là một câu đố khó giải cho những người bên ngoài nhìn vào cuộc tranh cãi này: giới tinh hoa thì thì yêu toàn cầu hóa, nhưng với những người còn lại -toàn cầu hóa thật phức tạp.
Đơn giản thì, hầu hết người lao động Mỹ thích toàn cầu hóa vì những tác động về giá cả hàng hóa, dịch vụ nhưng lại cảm thấy vô cùng thất vọng về vấn đề thu nhập khi nước này tham gia vào các hiệp định thương mại tự do. Họ hài lòng với việc giá cả các sản phẩm luôn được giữ ở mức thấp nhưng lại khó chịu trước viễn cảnh tiền lương bị cắt giảm. Rõ ràng thương mại là một trong số những yếu tố gây ra áp lực cắt giảm thu nhập cho người lao động trong một số ngành nghề (qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ khác); tuy vậy giới tinh hoa thường coi nhẹ thực tế này.
Cũng như hầu hết các nhà kinh tế học khác, tác giả bài viết này cho rằng lợi ích tổng thể do thương mại tự do mang lại vượt lên trước những tác động tiêu cực đi kèm với nó. Tuy nhiên, viễn cảnh trên chỉ có thể đạt được một khi các khía cạnh của thương mại tự do được đánh giá đúng mức và toàn diện.
Điểm chính yếu khiến thương mại mang lại lợi ích cho các quốc gia chính là khi các nước chỉ chuyên tâm sản xuất những hàng hóa mà mình có thể làm tốt nhất, họ có thể khiến mình cũng như các đối tác thương mại của mình trở nên giàu có. Lý thuyết này vẫn đúng (“lợi thế so sánh”) trong trường hợp một quốc gia A nào đó có lợi thế tự nhiên cả về sản xuất thép và ngô hơn quốc gia B-đối tác thương mại của họ. Liên quan đến quan hệ thương mại Mỹ-Mexico, trong tình huống Mexico phải từ bỏ mặt hàng ngô để tập trung sản xuất thép, Hoa Kỳ cũng sẽ chẳng thiệt hại, thậm chí còn được lợi hơn khi Mexico cung cấp ngô còn xứ sở cờ hoa xuất khẩu thép cho họ.
Sự thật này mặc nhiên đúng đồng thời đây cũng là nguồn gốc của tăng trưởng toàn cầu. Dù vậy, đây không phải thời điểm để trả lời cho câu hỏi ai người thắng, kẻ thua trong quan hệ thương mại quốc tế. Một lý thuyết thương mại khác cũng được biết đến rộng rãi là mô hình Stolper-Samuelson-dự báo chắn chắnrằng người lao động trong khu vực phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu sẽ phải đối mặt tình trạng thu nhập bị giảm.
Chuyên gia thương mại Dani Rodrik gần đây có viết, lý thuyết Stolper-Samuelson “cho rằng người lao động thiếu kỹ năng sẽ bị đào thải như là kết quả tất yếu của tự do thương mại”. Ông Rodrik nhấn mạnh rằng mối liên hệ giữa gia tăng thương mại và những hệ quả tiêu cực của nó không là chủ đề lạ trong mô hình Stolper-Samuelson. “Đây là kết quả gián tiếp của sự đa dạng các mô hình phát triển… hoạt động tái phân phối thịnh vượng do thương mại mang lại luôn tồn tại mặt trái. Không có mất mát, không có thành công. Những điều vừa đề cập là cái giá tiêu chuẩn của hoạt động kinh tế-quá quen đối với tất cả chuyên gia thương mại cho dù họ không quá công khai điều này.
Ở mặt đối lập, các chính trị gia thường tỏ vẻ phản đối luận thuyết nêu trên bằng việc liên tục đưa ra những khẳng định lạc quan như sau:
- “Bởi vì hầu như mọi người đều có việc làm, bất cứ cá nhân nào bị mất việc do ảnh hưởng của thương mại sẽ tìm được một công việc tốt hơn”. Sự thật là: Thứ nhất, nước Mỹ chỉ có thể đảm bảo tất cả người lao động đều có việc làm trong 1/3 thời gian giai đoạn từ năm 1980 trở về đây. Hai là, những công nhân có trình độ lao động phổ thông sẽ không còn khả năng làm trong những ngành có giá trị gia tăng cao; đồng thời, lao động trong các ngành chịu sự quản lý của công đoàn cũng sẽ chịu những thiệt hại nặng nề.
- “Do thương mại tạo ra lợi nhuận thực tế, bên thu được lợi ích sẽ bù đắp cho những chủ thể bị thiệt hại, và tiếp tục phát triển. Trong thực tiễn, bên thắng cuộc từ thương mại tự do không quan tâm đến lợi ích của nhóm bị thiệt hại, hơn thế, họ sẽ dùng những gì mình kiếm được gây ảnh hưởng đến các chính trị gia và chính sách tổng nhằm tiếp tục bảo vệ và gia tăng quyền lợi cho chính mình
- Thờ ơ trước “tác động có tính lãnh thổ”- mặt trái do toàn cầu hóa gây ra thường tập trung vào một số khu vực nhất định trong lãnh thổ mỗi quốc gia. Như những gì đã quan sát được hiện nay, việc không chú ý đến hệ quả như vừa nêu đã tạo ra những thách thức chính trị nhất định.
- Thiếu quan tâm đến cách thức mà các đối tác thương mại của Hoa Kỳ đã và đang quản lý tỷ giá tiền tệ tạo ra thách thức làm trầm trọng thêm thâm hụt thương mại và gây mất ổn định thị trường tài chính.
Nếu những hệ quả nêu trên không sớm được giải quyết, nước Mỹ sẽ tiếp tục chứng kiến tình trạng mức lương của người lao động trình độ phổ thông không được cải thiện; tỷ lệ đóng góp của người lao động Hoa Kỳ trong tổng sản phẩm quốc nội ngày càng thấp; suy giảm hội viên trong các tổ chức công đoàn; chuỗi cung ứng phát triển và tồn tại lâu hơn; lạm phát thấp và ổn định hơn; dòng vốn quốc tế đổ vào xứ sở cờ hoa mạnh mẽ nhưng đi kèm với đó thâm hụt sẽ trở nên trầm trọng hơn.
Tất nhiên, giới chính khách và học giả đều nhận ra những điều vừa nêu, dù vậy, một lần nữa, cần khẳng định lại rằng, mất cân bằng thương mại chỉ là một trong số những lý do gây nên những hậu quả như đã chỉ ra. Lấy ví dụ, số lượng thành viên trong các công đoàn đã có xu hướng suy giảm trước cả khi tăng trưởng kinh tế được khội phục trở lại.
May mắn là chính những vấn đề đã được nêu ra tại phần trên cũng đã hàm chứa câu trả lời cho chính nó. Với tư cách là những người đại diện cho tất cả người lao động Mỹ, không chỉ riêng những cá nhân bị mất việc làm do thương mại tự do, các cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ cần tập trung tạo đầy đủ tạo công ăn việc làm, qua đó tạo cơ sở thúc đẩy tăng lương cho người lao động. Những chủ thể được hưởng lợi từ tự do thương mại cần có trách nhiệm những cá nhân bị thiệt hại do tiến trình này gây nên (nước Mỹ đang áp dụng Chương trình hỗ trợ chuyển đổi thương mại, tuy vậy chương trình mới chỉ tiếp cận được một số ít các cá nhân có nhu cầu, đồng thời, lợi ích do nó đem lại cũng rất nhỏ); điều này gián tiếp chỉ ra sự cần thiết của việc nhanh chóng loại bỏ và thay thế những nỗ lực tái phân phối lợi ích mang tính thượng tầng mà Tổng thống Trump đang áp dụng thông qua chính sách thuế. Các chính sách tạo việc làm đối với những người lao động không thể bắt kịp với xu thế thương mại tự do cũng cần xứ sở cờ hoa quan tâm tạo dựng; đồng thời, nước Mỹ, trong các cuộc đàm phán những hiệp định thương mại cũng cần chú ý bổ sung điều khoản trừng phạt áp đặt lên các đối tác thương mại của mình trong trường hợp những nước này sử dụng tiền tệ như công cụ để đạt được lợi thế bất công bằng.
Tuy vậy, trước khi nước Mỹ tiến hành bất kỳ hành động nào như vừa đề cập ở trên và trước khi quá muộn, với tư cách là người đại diện của tiến trình toàn cầu hóa và dân chủ, Hoa Kỳ cần từ bỏ ngay thái độ hờ hững trước mặt trái của thương mại tự do.
Nguồn: washingtonpost
Từ khóa : thương mại tự do, Hoa Kỳ, người lao động, toàn cầu hóa
Các tin khác
- Đàm phán NAFTA: Gậy ông đập lưng ông (Phần 3) - 22/03/2018
- Đàm phán NAFTA: Đối pháp của Canada (Phần 2) - 22/03/2018
- Tin tưởng mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Hàn Quốc - Việt Nam sẽ được nâng lên tầm cao mới - 21/03/2018
- Đàm phán NAFTA: Vì sao chính quyền Mỹ “mềm mỏng” hơn? (Phần 1) - 21/03/2018
- Những thách thức dành cho Hội nghị Bộ trưởng tại New Delhi - 21/03/2018






















