JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếToàn cầu hóa hay quyền lợi cho phụ nữ?

Toàn cầu hóa hay quyền lợi cho phụ nữ?

Kate Lappin

Kate Lappin là điều phối viên khu vực của diễn đàn châu Á Thái Bình Dương về vấn đề phụ nữ, luật pháp và phát triển, một mạng lưới gồm 220 tổ chức và các phong trào vì quyền lợi phụ nữ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

*Bài viết chỉ phản ánh quan điểm của tác giả.

Sau 30 năm diễn ra toàn cầu tóa, nhiều người càng nhận ra rằng, sự khắc khổ, tư hữu hóa, giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ vào chính sách tiền tệ, các thị trường và các doanh nghiệp, tự do hóa thương mại và tự do hóa đầu tư là những yếu tố đã tác động xấu và mang tính phân biệt đối với phụ nữ. Các chuyên gia tại Liên Hiệp Quốc, các nhóm nước trong hiệp ước và các tổ chức quốc tế phi chính phủ đã phải hứng chịu sự chỉ trích triền miên trong xã hội và nhận ra rằng, chủ nghĩa tân tự do có tác động ngược và mang tính phân biệt đối xử dành cho nữ giới. Một chuyển biến đáng chú ý khác là ngay cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hiện nay cũng đang tỏ ra lo ngại trước bằng chứng cho thấy các chính sách tân tự do là nguyên nhân dẫn đến bất công. Rõ ràng rằng chủ nghĩa tân tự do có phân biệt về giới và hoàn toàn không có khả năng đem lại sự công bằng giữa nam và nữ cũng như không thể đem lại sự phát triển bền vững.

Tiến trình toàn cầu hóa theo học thuyết tân tự do đã khiến cho tình trạng bất bình đẳng đạt đến mức độ chưa từng có trong hơn 200 năm qua. Tám người giàu nhất thế giới đã nắm giữ tài sản của hơn một nửa nhân loại; tài sản của 1% dân số giàu thế giới còn nhiều hơn tài sản của tất cả 99% dân số cộng lại; 69 trong số 100 nhóm kinh tế lớn nhất thế giới là các tập đoàn, và 10 tập đoàn trong số đó còn giàu hơn 180 quốc gia cộng lại. Tình trạng bất bình đẳng hiện nay được xem là mối đe dọa cho sự gắn kết xã hội, hòa bình và nền dân chủ. Chính phủ các nước đã lặp đi lặp lại cam kết sẽ giải quyết tác động không mong muốn từ chủ nghĩa tân tự do. Bằng chương trình nghị sự 2030 với tên gọi “Phát triển bền vững và các Mục tiêu phát triển bền vững”, các nước hứa hẹn sẽ giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng trong nước và sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nước với nhau (Mục tiêu số 10); cải thiện tình trạng bình đẳng giới (Mục tiêu số 5); xóa nghèo (Mục tiêu số 1); kết thúc nạn đói, đảm bảo an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững (Mục tiêu số 2); cũng như đề phòng tình trạng biến đổi khí hậu đầy thảm họa.

Vậy mà, khi Chương trình Nghị sự 2030 còn chưa kịp khô mực, các nước lại tiếp tục những kế hoạch làm sâu sắc thêm chủ nghĩa tân tự do, trói buộc tương lai đất nước vào các bộ quy tắc mà có thể sản sinh ra chính những vấn đề các chính phủ đã hứa hẹn sẽ giảm bớt. Các nước ở khắp nơi trên thế giới lại tiếp tục, hoặc mở mới đàm phán về những hiệp định thương mại đa phương, trong khi những Hiệp định này mâu thuẫn trực tiếp với những gì mà chính phủ đã cam kết trong Chương trình 2030: “Các nước không được truyền bá hay áp dụng bất kỳ biện pháp thương mại, tài chính hay kinh tế nào một cách đơn phương và không tuân thủ luật pháp quốc tế cùng với Hiến chương của Liên Quốc Quốc, gây cản trở cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt ở các nước đang phát triển”.

Thế giới hiện nay có hơn 3000 hiệp định song phương và đa phương đang điều tiết hoạt động thương mại và đầu tư trên toàn cầu. Các Hiệp định đa phương quy mô lớn gần đây như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) còn mong muốn mở rộng phạm vi sang cả những vấn đề kinh tế nằm ngoài tầm với của Liên Hiệp Quốc và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Các Hiệp định thương mại, với mục đích ban đầu là cho phép dòng vốn được chu chuyển tự do trên toàn cầu, thì nay lại trở thành rào cản cho việc thực hiện quyền lợi của phụ nữ. Những người ủng hộ cho rằng, hiệp định thương mại nhằm để giảm bớt rào cản cho hoạt động thương mại và “cân bằng lại sân chơi” bằng cách đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi luật pháp địa phương và các quy định ưu đãi cho doanh nghiệp trong nước hoặc các quy định có tác động xấu đến nhà đầu tư nước ngoài. Trên thực tế, các hiệp định thương mại được tạo ra bởi các tập đoàn lớn nhằm phục vụ lợi ích cho họ, vì các hiệp định thương mại cho phép các tập đoàn này có thể đào thải các doanh nghiệp nhỏ trong nước và dùng sức mạnh chính trị để thu được lợi thế đáng kể.

Các hiệp định thương mại thường mang lại lợi ích cho những ai có đủ khả năng tận dụng cơ hội thị trường và cho tầng lớp lao động “có tay nghề cao”. Tuy nhiên, bởi vì phụ nữ thường không là người nắm lượng vốn lớn, thường hoạt động trong các khu vực phi chính thống, ít có khả năng thực hiện quyền về đất đai, và là thành phần hưởng lợi nhiều nhất từ chi tiêu công cho y tế, giáo dục, nước và năng lượng, thế nên các hiệp định thương mại sẽ phân bổ lợi ích không đồng đều mà phần thiệt nghiêng về phụ nữ. Thêm vào đó, các hiệp định thương mại còn làm cho phần lớn dân số thế giới đối mặt với tình trạng bị vi phạm nhân quyền. Trong năm 2015, 10 thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc trong các báo cáo chung cũng như báo cáo độc lập của mình đều lên tiếng lo ngại về ảnh hưởng của các hiệp định thương mại và đầu tư đến vấn đề quyền con người. Báo cáo cảnh báo, các hiệp định thương mại “có khả năng đi giật lùi trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, thông qua việc hạ thấp các tiêu chuẩn bảo vệ sức khỏe, an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn về lao động, bằng việc đáp ứng đòi hỏi của các doanh nghiệp độc quyền về dược và thắt chặt thêm vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ”.

RCEP – Hiệp định bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, 10 nước ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc và New Zealand – sẽ tác động đến một lượng lớn người dân hơn bất kỳ Hiệp định thương mại nào trước đó. RCEP bao trùm các vấn đề thương mại truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, nông nghiệp, hải quan, thuế và trợ cấp thương mại – nhưng đây chỉ là một phần nhỏ trong Hiệp định. RCEP còn vượt xa khỏi phạm vi thương mại, mong muốn áp đặt một khuôn khổ pháp quy toàn diện lên các nước thành viên. Thông qua khuôn khổ đó, RCEP có thể quyết định mức độ chính phủ điều tiết nền kinh tế, trong đó có khu vực tư nhân. Nội dung mở rộng bao gồm sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và dán nhãn, viễn thông, chính sách cạnh tranh, dịch vụ tài chính, quản trị thương mại điện tử, và gần đây còn có thêm mua sắm chính phủ.

Ngoài việc tác động đến nữ giới ở các nước thành viên, RCEP còn có ý nghĩa đối với phụ nữ trên khắp khu vực. Hiệp định có khả năng sẽ đem đến sự thay đổi lớn trong vị thế thương mại của Trung Quốc và Ấn Độ tại WTO. Ấn Độ là quốc gia châu Á lên tiếng bảo vệ quyền lợi quốc gia mạnh mẽ nhất, trong các vấn đề về tích trữ lương thực và trợ cấp nông nghiệp, cũng như trong vấn đề sản xuất thuốc generic. Thêm vào đó, RCEP biểu trưng cho một bước tiến lớn nhằm hướng đến thành lập Khu vực thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương đã được ấp ủ từ lâu. RCEP sẽ đóng vai trò làm nền tảng cho khu vực thương mại tự do, gây thiệt thòi lớn cho các quốc gia kém phát triển và cho các nước đang phát triển hiện nay không tham gia đàm phán. Mặc dù văn kiện chính thức của RCEP chưa được tiết lộ, trên mạng đã rò rỉ một số chương trong Hiệp định, cho thấy một vài nước thành viên đang mong muốn sao chép, và thậm chí là làm sâu sắc hơn, nội dung đã được thống nhất trong TPP.

Thông tin rò rỉ cho thấy, chương Đầu tư trong RCEP bao gồm cả cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước (ISDS). ISDS là di sản của chủ nghĩa thực dân, qua đó các tập đoàn Âu châu, dẫn đầu là Deutsche Bank, phát thảo cái gọi là “Đại Hiến chương cho nhà đầu tư”. Được giới thiệu lần đầu tiên vào cuối những năm 1950, ISDS xuất hiện trong nhiều hiệp ước giữa chính phủ thuộc địa cũ với chính phủ độc lập mới hình thành, như một phương tiện để ngăn cản việc quốc hữu hóa tài sản hữu hình của các tập đoàn đa quốc gia sau khi các nước thuộc địa giành được độc lập. ISDS trao cho các tập đoàn quyền được kiện chính phủ nếu như chính phủ thông qua bất kỳ đạo luật, chính sách hay quy định nào xâm phạm đến khả năng sinh lời của họ, và các phiên tòa sẽ không được diễn ra công khai. Thống kê về các vụ kiện ISDS gần đây cho thấy, các tập đoàn đã dùng cơ chế này để tránh việc phải đóng thuế, phản đối đạo luật và chính sách miễn công bố thông tin vì lợi ích công, và ngăn chặn việc độc quyền của nhà nước trong các dịch vụ công. Luật tiêu dùng, luật bảo vệ môi trường và chính sách bảo vệ khí hậu, luật lao động, luật y tế cộng đồng, và luật dán nhãn thực phẩm đều có thể bị xem là đang xâm phạm đến “quyền lợi của nhà đầu tư”. Trong năm 2015, các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc đã lưu ý, chính phủ các nước đang ngày càng khó có thể thông qua các đạo luật để bảo vệ quyền lợi phụ nữ bởi vì lo sợ bị kiện tụng. “Chúng tôi tin rằng, cơ chế ISDS đang làm vấn đề trở nên trầm trọng thêm, bởi vì chính phủ có thể bị phạt vì thông qua các quy định về bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm, tăng cường khả năng tiếp cận dược phẩm thiết yếu và giá rẻ cho người dân, … hay thậm chí là tăng lương tối thiểu”, các chuyên gia LHQ trình bày trong báo cáo. Từ các thông tin bị rò rỉ trên cộng với nội dung của các Hiệp định thương mại trước đây, chúng ta có thể lo ngại rằng RCEP có thể cũng sẽ đem đến kết quả không tốt đẹp cho nữ giới.

Làm sâu sắc thêm tình trạng bất bình đẳng và giảm chi tiêu công

Các nhà nghiên cứu phân tích về tác động kinh tế của các Hiệp định ưu đãi thương mại hiện hữu đã tìm ra bằng chứng cho thấy, “đi kèm với việc hình thành các hiệp định thương mại là sự gia tăng đáng kể tình trạng sản xuất kinh tế tập trung vào một số ngành nhất định, kết quả là, tình trạng bất bình đẳng kinh tế ngày càng sâu sắc”.  Việc giảm thuế đã làm chính phủ mất đi nguồn thu ngân sách quan trọng, cũng như tước đoạt công cụ mà nhà nước có thể dùng để cân bằng lại lợi thế vượt trội của các tập đoàn sản xuất toàn cầu so với các doanh nghiệp trong nước. Thu ngân sách từ thuế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương hiện chiếm một tỷ lệ thấp (17,6%) trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP), vì vậy, bất kỳ khoản thất thu ngân sách nào cũng sẽ bị bù đắp bằng các hình thức đánh thuế thoái thu, chẳng hạn như thuế đánh trên hàng hóa và dịch vụ hay thuế giá trị gia tăng (những loại thuế được cho là có tác động phân biệt đối xử), hoặc giảm các dịch vụ công.

Thuế có thể chiếm một phần quan trọng trong thu nhập, đặc biệt ở các nền kinh tế với hệ thống thuế kém phát triển, và nơi mà các ưu đãi thuế chỉ được dùng để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chi tiêu công giảm sẽ tác động nặng nề nhất lên người nghèo, trong đó đặc biệt là phụ nữ. Ngân sách cắt giảm kéo theo giảm trợ cấp, giảm lương trong khu vực công và giảm phúc lợi xã hội. Và mỗi việc làm trên đều có tác động tiêu cực không cân xứng lên phụ nữ và trẻ em, bởi vì phụ nữ là nhóm người thường đề nghị chi trả từ bảo hiểm xã hội, thường sử dụng dịch vụ công và thường làm việc trong khu vực công.

Hệ quả nếu có của một vụ kiện ISDS có thể tác động lớn lên chi tiêu công của chính phủ ở các quốc gia đang phát triển. Tính đến hiện nay, phần lớn các vụ kiện ISDS có bị đơn là các quốc gia đang phát triển và nguyên đơn là các tập đoàn đa quốc gia đến từ các nước phát triển. Tiền đền bù thường lên đến hàng trăm triệu USD, và thậm chí hàng tỷ USD. Lấy ví dụ, Ecuador từng bị phán quyết phải bồi thường 2.4 tỷ USD sau khi một công ty dầu mỏ khiếu kiện chính phủ vì đã bắt công ty này dọn dẹp chất thải độc hại. Khoản phạt chiếm đến hơn 6% trong ngân sách của quốc gia nhỏ này và nhiều hơn cả ngân sách cho mảng y tế. Argentina cũng đã đối mặt với 53 cáo buộc trị giá tổng cộng 80 tỷ USD sau khi nước này ban hành quy định để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính đã khiến cho nhiều người rơi vào cảnh đói nghèo. Philippines theo ghi nhận cũng đã chi 58 triệu USD chi phí pháp lý trong hai vụ kiện, tương đương khoản tiền được dùng để trả lương hàng năm cho 12,500 giáo viên. Mặc dù không phải tất cả vụ kiện đều được xét xử công khai, vì bản chất bí mật của ISDS, người ta vẫn thống kê được có ít nhất 50 vụ việc với số tiền yêu cầu bồi thường lên đến 31 tỷ USD là chống lại các nước thành viên RCEP. Và RCEP, nếu được thông qua, sẽ càng khiến cho các quốc gia thành viên đối mặt thêm với nhiều vụ kiện khác. Các quốc gia này cũng sẽ bị thất thu ngân sách từ thuế, khi ít nhất có 24 quốc gia bị các tập đoàn lớn khởi kiện liên quan đến đạo luật về thuế hoặc quá trình thu thuế.

Còn tiếp …

Nguồn:  Stratfor – TQ

Từ khóa: tự do hóa, toàn cầu hóa, quyền lợi, phụ nữ, phân biệt, RCEP, bất bình đẳng, chi tiêu công

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008759701
Go to top