
Kể từ thời của Adam Smith, các nhà kinh tế học đã quá quen thuộc với những lợi ích đem lại từ hoạt động tự do thương mại. Hoạt động thương mại thúc đẩy sự chuyên môn hóa, dẫn đến chi phí thấp hơn, năng suất cao hơn, làm nâng cao chất lượng cuộc sống.
Tuy nhiên, đối với một số nhà kinh tế học, những điều này sẽ khác khi đề cập đến sự kiện Anh rời khỏi liên minh thuế quan và thị trường chung EU. Liên minh thuế quan được xây dựng dựa trên mô hình Zollverein của Đức nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước khỏi sự cạnh tranh từ bên ngoài trong giai đoạn thống nhất nước Đức cách đây 150 năm. Ngày nay, thương mại tự do đang được xúc tiến giữa các nước thành viên bên trong liên minh Châu Âu, và đây là một dấu hiệu tốt. Tuy nhiên, liên minh thuế quan lại áp đặt những rào cản thương mại đối với phần còn lại của thế giới, và điều này thì không tốt chút nào.
Thị trường chung cũng đặt ra một bộ quy chế khổng lồ và vướng víu đối với hoạt động kinh tế bên trong EU. Brexit sẽ mang lại cho Vương quốc Anh cơ hội để theo đuổi chính sách thương mại tự do của riêng mình với các quốc gia khác trên thế giới và để thoát khỏi những gánh nặng pháp lý không cần thiết của thị trường chung này.
Nhiều nhà kinh tế học đã bác bỏ ngay ý tưởng Brexit sẽ mang lại các lợi ích kinh tế cho Vương quốc Anh, mà chưa hề đi vào nghiên cứu một cách nghiêm túc. Trước cuộc trưng cầu dân ý, các nhà kinh tế học của Bộ Tài chính cảnh báo công chúng rằng " Brexit sẽ tạo một cú sốc bất ngờ và tác động sâu sắc đến nền kinh tế của chúng ta" dẫn đến suy thoái kinh tế và gia tăng thất nghiệp.
Thế nhưng, những dự đoán này ngày càng tỏ ra không chính xác. Mô hình được thực hiện bởi Trung tâm Hiệu suất Kinh tế (CEP) của Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn (LSE) cho thấy rằng việc Anh rời khỏi EU chỉ mang lại những hệ quả tiêu cực cho nền kinh tế của quốc gia này.
Sự đồng thuận sai lệch
Một trong các vấn đề của các nhà kinh tế học khi tiến hành phân tích là, họ không tin rằng Brexit sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế Anh Quốc. Ví dụ, mô hình CEP bao gồm giả định theo chốt rằng Brexit sẽ làm giảm nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đến hơn 20%.
Trên thực tế, đầu tư vào Vương quốc Anh đã ở mức kỷ lục kể từ khi cuộc trưng cầu dân ý, và ở hiện tại, niềm tin về sự tăng trưởng của dòng vốn FDI vào Vương Quốc Anh trong tương lai còn cao hơn cả trước khi cuộc trưng cầu ý dân diễn ra. Rõ ràng, nếu CEP tính đến một viễn cảnh mà Brexit làm tăng FDI, họ đã có thể đưa ra một loạt những ước tính cân bằng hơn về ảnh hưởng chung của việc Anh Quốc rời khỏi EU.
Thậm chí tệ hơn, chúng ta có cảm tưởng như, đôi lúc, các chuyên gia kinh tế đang thống nhất với nhau một quan điểm, rằng Brexit chỉ có thể dẫn đến những tổn thất đáng kể cho nền kinh tế Anh Quốc. Trên thực tế, cuốn sách mới của hai nhà kinh tế học Phil Whyman và Alina Petrescu đã chứng minh rằng, sự đồng thuận ngầm này sẽ dẫn đến những nhận thức sai lệch.
Ví dụ, ông Patrick Minford, Chủ tịch Hiệp hội các nhà kinh tế Tự do Thương mại (EFT), kết luận rằng củng cố tự do thương mại, giành lại quyền kiểm soát các khoản nộp ngân sách EU, và giảm gánh nặng từ các quy chế, có thể đẩy GDP của Anh tăng 7% - khoảng 135 tỷ bảng Anh mỗi năm.
Một cách tiếp cận khác
Đã có những ý kiến cho rằng mô hình sử dụng trong phân tích của EFT có rất nhiều lỗ hỏng hoàn toàn vô giá trị khi so sánh với "mô hình trọng lực" (gravity model) thiên về tính toán bởi Bộ Ngân khố và CEP. Với mô hình trọng lực, thương mại song phương và dòng chảy FDI giữa hai nước là hàm số được quyết định bởi các biến số kinh tế như sản lượng kinh tế của đất nước (GDP), các biến số nhân khẩu học như quy mô dân số, các biến địa lý như khoảng cách, và các biến văn hoá như ngôn ngữ sử dụng. Mô hình đưa ra kết luận rằng, nếu muốn tăng trưởng thương mại và FDI, các nước nên tiến gần một khối thương mại lớn càng nhiều càng tốt.
Nhưng, mô hình trọng lực dự đoán hoạt động thương mại và dòng chảy FDI chính xác đến mức nào? Câu trả lời là không được chính xác cho lắm. Các đối tác thương mại chính của Anh trong thế kỷ 19 là Mỹ, Canada, Tây Ấn, Argentina, Brazil và Trung Quốc. Không có đối tác chính nào là các nước láng giềng ở châu Âu. Thị phần xuất khẩu của Anh sang EU đã giảm từ 54% năm 2006 xuống còn 43% hiện nay, mặc dù trong giai đoạn này, các nước thực hiện chủ trương về một “liên minh châu Âu mật thiết hơn bao giờ hết”. Nếu theo mô hình lực trọng lực, thì thị phần xuất khẩu của Anh đáng lẽ phải di chuyển theo hướng ngược lại.
Công trình nghiên cứu của nhà kinh tế học Minford lại có một cách tiếp cận khác, nhấn mạnh về kỳ vọng hợp lý và đường cung của nền kinh tế. Ngày nay, việc các nhà kinh tế học tranh luận những ưu điểm và nhược điểm của các mô hình tiếp cận khác nhau là điều bình thường, và cũng hợp lý khi họ nghi ngờ tính hiệu quả của từng loại mô hình.
Điều không hợp lý là việc bỏ qua mọi nỗ lực đánh giá nghiêm túc những lợi ích tiềm ẩn thu được từ chính sách trọng cung trong nền kinh tế và hiệu quả đạt được từ các cơ hội tự do thương mại lớn hơn. Thật vậy, ông Minford đã dùng những lập luận chi tiết và chặt chẽ, để bảo vệ quan điểm rằng mô hình của ông phù hợp với thực tế của dòng chảy thương mại hơn cách tiếp cận của mô hình trọng lực.
Vấn đề Brexit đã làm lộ ra những mặt yếu kém nhất của các nhà kinh tế học. Trong một số trường hợp, họ đã để những thành kiến về chính trị làm mờ đi các luận điểm khoa học của họ. Việc Brexit có giúp cải thiện hay làm xấu đi tình trạng hiện tại của nền kinh tế vẫn là điều mà chỉ thời gian mới có thể trả lời.
Nhưng có một điều không phải bàn cãi, đó là vẫn có những lý do chính đáng để tin rằng, Brexit có tiềm năng mang lại những lợi ích kinh tế to lớn cho Vương quốc Anh. Cuộc trưng cầu dân ý đã chấm dứt và người dân Anh biết rằng họ sẽ rời khỏi EU. Thay vì kéo dài “các nỗi sợ hãi”, hiện tại là lúc để các nhà kinh tế làm việc cật lực hơn để đảm bảo những lợi ích tiềm năng từ Brexit trở thành hiện thực.
Nguồn: The Conversation - MH
Từ khóa: làm thế nào, Anh, có lợi, hiệp định, tự do thương mại, Brexit, ngay cả khi, nằm ngoài, thị trường chung
Các tin khác
- Làm thế nào để Anh có lợi từ những hiệp định tự do thương mại sau Brexit - ngay cả khi nằm ngoài thị trường chung - 28/09/2017
- Các công ty ở Anh hối thúc một thỏa thuận về dịch vụ tài chính sau Brexit - 28/09/2017
- Vai trò của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong thương mại quốc tế - 27/09/2017
- “Bài kiểm tra” quan hệ thương mại Mỹ - Trung - 27/09/2017
- Thương mại đa phương Châu Á - Thái Bình Dương có thể tồn tại nếu không có Hoa Kỳ? - 27/09/2017






















