JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnLý thuyết và thực tiễn hội nhập ở Châu Âu

Lý thuyết và thực tiễn hội nhập ở Châu Âu

 

EU-2

Bài viết này, tác giả Finn Laursen đề cập về lý thuyết cổ điển về hội nhập, đặc biệt là tân chức năng luận, chiếm ưu thế trong các cuộc tranh luận về hội nhập Châu Âu từ đầu những năm 1950-1990.

Tiếp theo, là những đóng góp quan trọng nhất cho lý thuyết hội nhập trong vòng 10-15 năm qua, cụ thể là chủ nghĩa Liên chính phủ tự do của Andrew Moravcsik. Sau đó là một số phê bình quan trọng nhất về Liên chính phủ tự do, đặc biệt là sự lựa chọn thể chế và thiết chế xã hội và kết thúc với một nghiên cứu ngắn gọn những thăng trầm của Hiến pháp Hiệp ước.

Những lý thuyết cổ điển

Các lý thuyết của khu vực chủ yếu được phát triển để giải thích hội nhập Châu Âu, mà đại diện đầu tiên là Ernest Haas và Lion Lindberg. Ernest Haas chủ yếu nghiên cứu về sự chảy tràn từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Và theo ông: “hội nhập là quá trình mà các chủ thể quốc gia riêng biệt cam kết trung thành, kỳ vọng vào hoạt động chính trị của tổ chức trung tâm có thẩm quyền với các quốc gia trước đó”. Và ông nhận thấy Cộng đồng kinh tế Châu Âu là sự chảy tràn từ Cộng đồng Than–Thép Châu Âu: tự do thương mại trong liên minh thuế quan dẫn đến sự hài hòa kinh tế chung và tràn vào lĩnh vực chính trị. Còn Lindberg cho rằng: “Hội nhập là thay thế khả năng thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại một cách độc lập bằng cách ủy quyền cho một trung tâm mới”. Ông cũng cho rằng sự chảy tràn đưa ra một tình huống với mục tiêu cụ thể tạo ra một tình huống khác mà mục tiêu được đảm bảo có lợi hơn, tạo ra một điều kiện tốt hơn. Ông tin rằng khái niệm về hội nhập của ông chuẩn mực hơn của Haas.

Năm 1960, Hội nhập Châu Âu rơi vào khủng hoảng do sự tái sinh của chủ nghĩa dân tộc đứng đầu bởi Thủ tướng De Gaull. Sau đó Hass đã thừa nhận lý thuyết Chức năng mới đã không còn phù hợp nữa và dẫn đến thất bại.

Một nhà lý luận khác, Stanley Hoffmann nhận định: tình hình quốc gia và nhận thức vai trò trái nhau trong tổ chức EU. Ông nhận ra sự mâu thuẫn giữa logic của hội nhập và logic của sự đa dạng.

Hội nhập được xem như một tiến trình chính trị của Lindberg và Scheingold. Về nhu cầu của các nhóm nước khác nhau thì có những kỳ vọng và sắp xếp trước cho chính phủ về kết quả nhất định. Trên phương diện cung, sự cấu thành liên minh và lãnh đạo được coi là khía cạnh trung tâm của quá trình

Lindberg và Scheingold nghiên cứu về EC như một hệ thống chính trị, họ đã thêm 3 cơ chế hội nhập cho sự chảy tràn: (i) mối liên kết và trao đổi thương lượng (ii) chủ thể xã hội hóa (iii) thông tin phản hồi. Làm thế nào để động lực mới của EC liên quan đến việc hoàn thành thị trường nội địa EC trong suốt giai đoạn 1987 – 1992 phù hợp với lý thuyết tân chức năng của Lindberg và Scheingold đã được sửa đổi về hội nhập quốc tế. Đó là: bổ sung các chính sách mới ngoài kinh tế chính trị như là công nghệ, môi trường, tiền tệ,…; vượt qua rào cản thuế quan phi thương mại; quy tắc của Đạo luật Châu Âu thống nhất.

Người ta có thể lập luận rằng tập hợp lợi ích quốc gia là quan trọng hay thậm chí mang tính quyết định. Điều này bao gồm những thay đổi về chính sách chính trị trong nước ở một số quốc gia thành viên, đặc biệt là ở Pháp dưới thời Tổng thống Mitterrand (Moravcsik, 1991).

Liên chính phủ tự do

Stanley Hoffmann đã phê phán chức năng mới do mắc phải các sai lầm: hội nhập không phải là quá trình khép kín mà còn chịu tác động của môi trường quốc tế; coi nhà nước quốc gia có quyền lớn nhất trong tiến trình hội nhập Châu Âu; hội nhập chính trị cấp thấp chưa chắc dẫn đến hội nhập chính trị cấp cao. Ông cho rằng hội nhập là Chính phủ tự nguyện tham gia các hiệp định nhằm giải quyết các vấn đề chung. Quyền lực thuộc quốc gia trên cơ sở sự đồng thuận. Như vậy, học thuyết của ông mang tính chất liên chính phủ nhiều hơn là siêu quốc gia.

Liên chính phủ tự do của Andrew Moravcsik (Moravcsik, 1993 và 1998) đã trở thành một điểm sáng quan trọng đối với hầu hết các nghiên cứu gần đây về hội nhập, đặc biệt là những quyết định lớn mà ông đề cập tới như là “món hời lớn”; bao gồm ba giai đoạn: hình thành lợi ích quốc gia, thương lượng giữa các nước và sự lựa chọn thể chế.

Sử dụng lý thuyết của việc ra quyết định, các cuộc đàm phán và kinh tế chính trị quốc tế nói chung trong một sự kết hợp hài hòa đã cho phép Moravcsik xây dựng một khuôn khổ chặt chẽ cho các nghiên cứu về hợp tác quốc tế bao gồm cả “món hời lớn” như cải cách hiệp ước EU.

Phê bình liên chính phủ tự do

Moravcsik không thừa nhận tầm quan trọng của tổ chức Cộng đồng trong “món hời lớn”. Ông cho rằng quốc gia vẫn luôn là nhân tố quyết định trong hội nhập. Ông cho rằng những “món hời” được tạo ra do các quốc gia thành viên. Nhưng các nhà thể chế khác lại nhận thấy tầm quan trọng của EC thông qua: UB Châu Âu xây dựng pháp luật; UB & Tòa án công lý Châu Âu giám sát và thi hành luật; thực hiện cải cách hiệp ước từ Đạo luật Châu Âu thống nhất đến Hiệp ước Hiến pháp. Trong tư tưởng của Moravcsik vừa có yếu tố liên chính phủ tự do mới vừa có yếu tố của thuyết chức năng mới.

Hiệp ước Hiến pháp

Hiệp ước Hiến pháp chấm dứt khi các cử tri Pháp và Hà Lan bỏ phiếu “không” năm 2005. Thuật ngữ Hiệp ước không hoàn toàn xác định. Nó thường hướng đến tổ chức của chính phủ và bao hàm cả những hạn chế trong chính phủ đó. Câu hỏi đặt ra là tại sao Hiệp ước Hiến pháp lại bị từ bỏ. Có thể thấy ở Pháp là do tình hình kinh tế bất ổn, thất nghiệp  cao còn ở Hà Lan thì công chúng hiểu biết quá ít về Hiệp ước và một số lý do khác ở các nước khác. Như vậy việc trưng cầu dân ý là rất mơ hồ và tương đối hạn chế ở một số nước.

Sự thất bại của Hiệp ước Hiến pháp là thất bại của nền dân chủ trực tiếp và sau này được thay thế bởi Hiệp ước Cải cách hay Hiệp ước Lisbon (2007). Cải cách Hiệp ước cần tiếp cận bên ngoài, vượt qua lợi ích kinh tế và sức mạnh thương lượng; cần quan tâm đến trung gian và mô hình các cấp EU; và có thể nghiên cứu như một trò chơi 3 cấp, trong đó EU làm thành một cấp thứ 3. Cải cách hiệp ước thay đổi sự cân bằng thể chế theo thời gian và phạm vi chức năng, phân chia quyền lực theo chiều ngang và chiều dọc. Và EU được coi là một quá trình của chủ nghĩa Hiến pháp.

Jean Monnet xây dựng liên bang bằng cách tiếp cận từng bước chứ không cách mạng một lần. Năm 1960, Friedrich cho rằng liên bang đang diễn ra ở Châu Âu và chế độ liên bang là một quá trình của hiến pháp hóa. Đến 1980, William Wallace nhận định EU hơn một chính thể quốc tế nhưng không bằng một nhà nước liên bang; năm 1991 Robert Keohane và Stanley Hoffmann cũng lặp lại nhận định này. Thiếu sót quan trọng nhất của EU từ góc độ liên bang là cấu trúc trụ cột của Liên minh

Hy vọng với Hiệp ước Lisbon sẽ tiếp tục theo quỹ đạo chủ nghĩa lập hiến của Liên minh Châu Âu, đơn giản vì Liên minh cần có một sự chỉnh hợp hiến pháp để tạo ra các cam kết đáng tin cậy và quản lý hợp pháp

Nguồn: Globalcenter.edu.vn

Từ khóa: lý thuyết, thực tiễn, hội nhập, châu Âu

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008748237
Go to top