
Sự hiện diện rõ ràng của làn sóng thương mại nước ngoài cùng các ưu tiên trong kinh tế của Mỹ đã giúp các quan chức nước này trong đàm phán các PTA.
Ngày nay Mỹ đang tiến hành các cuộc đàm phán thương mại quy mô lớn với Liên minh châu Âu (EU) và các quốc gia trong khu vực Thái Bình Dương (TPP – Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương). Chính quyền Mỹ rất coi trọng sự thành công của các cuộc đàm phán trên, theo lời của các trang web chính thức của các đại diện thương mại Mỹ, các hiệp định này "sẽ mở ra nhiều cơ hội cho người lao động, các gia đình, các doanh nghiệp, các nông dân và chủ trang trại Mỹ bằng cách tăng khả năng tiếp cận một số thị trường phát triển nhanh nhất trên thế giới".
Mỹ hiện có hiệp định thương mại tự do với 20 quốc gia, chiếm 46% sản lượng xuất khẩu và 40% tổng hàng hóa trong thương mại. Hiện 2 nước Canada và Mexico - đối tác chính của Mỹ trong Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) - chiếm 27% tổng kim ngạch thương mại của Mỹ. Với sự tham gia đàm phán của Nhật Bản trong Hiệp định TPP, thì TPP sẽ chiếm 40% GDP toàn cầu và 1/3 tổng thương mại thế giới. Trong năm 2013, Mỹ đã xuất khẩu 65 triệu USD hàng hóa và 48 triệu USD dịch vụ sang thị trường Nhật Bản.
Các phân tích của rất nhiều tài liệu và báo cáo về các cuộc đàm phán song phương đối với việc tạo ra các hiệp định thương mại ưu đãi (PTA) với nhiều quốc gia khác nhau cho phép người đọc kết luận rằng lý do chính của việc thiết lập các PTA, bao gồm cả NAFTA, là do các mục tiêu đặt ra trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Đây là vấn đề luôn được thảo luận trong quá trình xem xét và phê chuẩn các hiệp ước tại Đại hội. Lập luận ủng hộ việc mở rộng xuất khẩu được củng cố bởi chính sách đối ngoại và các vấn đề an ninh quốc gia. Những lợi ích của Mỹ có liên quan đến thương mại ưu đãi hiện đang dần chuyển sang khu vực Đông Nam Á. Có thể nói rằng Mỹ xuất số lượng hàng hóa trị giá 1,9 tỷ USD sang các nước TPP mỗi ngày. Vì vậy, bất kỳ rào cản thuế quan hoặc phi thuế quan nào cũng sẽ dẫn đến việc tăng chi phí phân phối của các doanh nghiệp Mỹ và làm giảm khả năng cạnh tranh của họ.
Một đặc trưng nổi bật của các cuộc đàm phán thương mại gần đây là nhấn mạnh vào nhu cầu cải cách thị trường nội bộ của các nước đối tác theo hướng các quy định của các tổ chức phát triển và đầu tư. Một đặc trưng khác của việc đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại là sự tham gia tích cực của các đại biểu quốc hội và các thượng nghị sĩ. NAFTA đã được thông qua bởi đa số và chỉ có 34 phiếu chống, sau khi cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Colin Powell tuyên bố rằng NAFTA rất cần cho việc bảo đảm an ninh dọc theo biên giới Mexico-Mỹ. Kể từ đó, đảng Dân chủ miễn cưỡng ủng hộ việc phê chuẩn các hiệp định thương mại, và đề xuất các vị trí bảo hộ chống lại hàng nhập khẩu từ các nước có chi phí lao động thấp, quyền lợi người lao động không được bảo vệ, và không đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường. Các thỏa thuận thương mại tự do với các nước Trung Mỹ đã được thông qua với đa số, và chỉ có 2 phiếu chống. Với xu hướng chính trị hóa các chương trình thương mại nước ngoài, cơ chế "đàm phán nhanh" là rất quan trọng đối với việc ký kết các hiệp định thương mại mới giữa Mỹ và các đối tác của mình. Ngày 10/5/2007, Quốc hội Mỹ đã thông qua thỏa thuận thực hiện "Chính sách thương mại mới của Mỹ", trong đó các nhà đàm phán Mỹ buộc phải đặt vấn đề môi trường và lao động vào trung tâm các cuộc đàm phán thương mại. Hiện tại, khi bất cứ một PTA nào được đưa ra đàm phán, phía Mỹ luôn đưa một điều khoản lao động vào văn bản Hiệp định, trong đó buộc các đối tác phải đồng ý thay đổi pháp luật lao động trong nước sao cho phù hợp với Tuyên bố ILO năm 1998 về Các nguyên tắc cơ bản và các quyền của người lao động tại nơi làm việc. Các đối tác cũng phải đồng ý tuân thủ 7 quy định đặc biệt về bảo vệ môi trường.
Phần lớn các chuyên gia tin rằng chiến thắng của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử Quốc hội hồi tháng 11/2014 sẽ tạo điều kiện cho việc thông qua nhanh các hiệp định thương mại, vì Đảng Cộng Hòa có khả năng sẽ quan tâm nhiều hơn đến các lợi ích kinh doanh và việc mở rộng thị trường nước ngoài của Mỹ.
Yêu cầu đầu tiên giúp Mỹ có thể tự tin khẳng định rằng lập trường của mình trong các cuộc đàm phán PTA là theo hướng một mô hình phát triển, trong khi yêu cầu thứ hai buộc các đối tác phải thực hiện theo những mục tiêu nhất định.
Đặc điểm của mô hình đàm phán PTA của Mỹ
Đầu tiên, các nội dung cơ bản trong phương pháp tiếp cận của Mỹ đối với các cuộc đàm phán là tự do hóa và loại bỏ các rào cản thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ, cũng như hình thành các quy tắc và các quy định liên quan đến thương mại nghề truyền thống cũng như đưa ra các yêu cầu cải cách đối với chính sách quốc gia – những chính sách thể hiện sự phân biệt đối xử với các công ty nước ngoài và tạo lợi thế cho doanh nghiệp trong nước.
Thứ hai, các nhà đàm phán Mỹ xác định rõ những lĩnh vực mà họ đang có kế hoạch bảo vệ - những lĩnh vực chịu các áp lực chính trị lớn trong nước. Thường xuyên có thể kể đến nhất là ngành công nghiệp đường và sữa, các vấn đề liên quan đến nguồn gốc của hàng hóa ngành công nghiệp nhẹ (quần áo) và thiết bị điện tử tiêu dùng. Khi phái đoàn Mỹ tìm cách dàn xếp những vấn đề này, họ sẽ làm từ từ, dần dần và mỗi lần một ít.
Thứ ba, vị trí đàm phán của Mỹ bao gồm các vùng "cấm" và những chủ đề không thể thỏa hiệp, chẳng hạn như các vấn đề liên quan đến nhập cư, hoặc các dịch vụ việc làm tạm thời. Đối với những vấn đề này, Mỹ sẽ từ chối thực hiện các nghĩa vụ bắt buộc về tiêu chuẩn thường thấy trong một PTA.
Rộng hơn, mục tiêu của chính sách đàm phán của Mỹ là đạt được một thỏa thuận toàn diện về việc loại bỏ các rào cản thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ, thành lập các phương pháp tiếp cận mới cho các vấn đề lao động, môi trường, đầu tư, cạnh tranh và các quy định đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực công. Các cuộc đàm phán tập trung vào việc phát triển các phương pháp tiếp cận mới đối với các quy định về hàng hóa và vốn.
Đồng thời, các quan chức Mỹ mạnh mẽ yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt, và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ các PTA, trong đó nhấn mạnh vào tính minh bạch của các thủ tục và tính rõ ràng của các thỏa thuận trong việc giải quyết tranh chấp nói chung, và việc bảo vệ tài sản trí tuệ nói riêng. Sự nhấn mạnh về việc thực thi các PTA liên quan đến việc chuẩn bị một văn bản các quy định rất chi tiết và phức tạp để làm căn cứ cho các vụ kiện tụng khi cần thiết.
Như một quy luật chung, vị trí của Mỹ khi ký kết các PTA thường dựa trên các cam kết loại bỏ tất cả các rào cản đối với "gần như tất cả" các hình thức thương mại của những loại hàng hoá thành phẩm. Tuy nhiên, không có biện pháp định lượng được cụm "gần như tất cả" là gồm bao nhiêu phần trăm thương mại. Do đó, lập luận của Mỹ khi loại trừ các sản phẩm nông nghiệp và dệt may ra khỏi các PTA dựa trên cơ sở những mặt hàng này chỉ chiếm 10% doanh thu hàng hóa thành phẩm là mơ hồ và không rõ ràng.
Các PTA kiểu Mỹ có các tiêu chuẩn về thương mại tự do hơn so với phần lớn các PTA của WTO, tuy nhiên vẫn có hai trường hợp ngoại lệ nổi tiếng đối với một số sản phẩm nông nghiệp: Mỹ loại trừ mặt hàng đường khỏi vòng lưu thông tự do trong khu vực thương mại tự do Mỹ-Úc, và Hàn Quốc loại trừ gạo trong Hiệp định thương mại tự do với Mỹ. Bên cạnh đó, thương mại đối với các sản phẩm từ sữa giữa Mỹ và Canada cũng không được tự do hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, ngoại trừ những ví dụ trên thì hầu hết các loại hàng hóa đều được đưa ra thảo luận trong các PTA.
Một phần thuế quan sẽ được loại bỏ ngay sau khi đạt được thỏa thuận. Trong một số trường hợp, lộ trình loại bỏ thuế quan có thể kéo dài đến 15 năm. Với các nhóm hàng đặc biệt nhạy cảm, tự do hóa sẽ có đặc điểm chọn lọc và dần dần. Ví dụ, trong các hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ và Hàn Quốc, gần 95% thương mại song phương đối với sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp sẽ được miễn thuế trong 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. 5% thương mại còn lại sẽ được miễn thuế hoàn toàn trong vòng 10 năm.
Ưu tiên đàm phản của Mỹ trong lĩnh vực Dịch vụ
Một ưu tiên quan trọng khác đối với Mỹ trong các cuộc đàm phán thương mại là tăng tiếp cận thị trường và tăng đầu tư vào các dịch vụ.
Trong ¼ thế kỷ gần đây, vấn đề tự do hoá thương mại đã đạt được nhiều tiến bộ trong các cuộc đàm phán của Mỹ về các lĩnh vực dịch vụ cơ bản như: tài chính, bảo hiểm, viễn thông và chuyển phát nhanh. Người Mỹ xem thỏa thuận kiểu này là mô hình mẫu, và muốn TPP cũng đạt được tiêu chuẩn tương tự.
Một phương thức cải cách vấn đề tiếp cận thị trường trong quá trình đàm phán PTA là lập trường của Mỹ đối với việc giảm các hạn chế khi tiếp cận lĩnh vực mua sắm chính phủ, với cơ sở là Hiệp định mua sắm Chính phủ của WTO (GPA). Tuy nhiên, GPA lại là một thỏa thuận đa phương và chỉ áp dụng cho những nước đã ký kết thỏa thuận. Chỉ có 5 trong số 21 quốc gia APEC đã ký GPA, gồm: Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông và Canada. Australia, Chile, Trung Quốc và New Zealand vẫn đang duy trì trạng thái quan sát.
Trong các cuộc đàm phán PTA, Mỹ cố gắng đưa các quy tắc tương tự như Hiệp định mua sắm Chính phủ vào trong các quy tắc của thỏa thuận nhằm đảm bảo các công ty Mỹ sẽ không bị phân biệt đối xử khi tiếp cận các hợp đồng mua sắm công của các nước đối tác. Đối với các nước đã ký kết GPA, Mỹ cố gắng mở rộng danh sách các cơ quan nhà nước mà các nhà cung cấp dịch vụ Mỹ có thể nộp hồ sơ dự thầu.
Đầu tư
Một chương toàn diện và đầy đủ về vấn đề đầu tư trong một PTA có thể thay thế một Hiệp ước song phương đầu tư (BIT), giống như các quy định trong PTA về mua sắm công có thể thay thế và bổ sung các nghĩa vụ có sẵn trong khuôn khổ GPA của WTO. Các BIT là một thỏa thuận song phương về đầu tư dùng để bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư tư nhân Mỹ ở nước ngoài. Tại Mỹ, BIT phải được 2/3 Thượng viện phê chuẩn - một việc khó đạt được. Trong khi đó, một PTA chỉ yêu cầu đa số thành viên trong cả Hai viện của Quốc hội thông qua, và điều này có thể đạt được trong giai đoạn tăng tốc hoàn thành ký kết. Các vấn đề về đầu tư sẽ liên quan đến việc tham gia vào bốn cam kết: a) Quyền thành lập các tổ chức tài chính hoặc các công ty cung cấp dịch vụ mà không bị hạn chế hoạt động (ví dụ, về số lượng các công ty cung cấp được phép hoạt động); b) Bắt buộc sử dụng hoặc mua sản phẩm nội địa (theo tỷ lệ phân bổ của từng doanh nghiệp); c) bảo vệ hiệu quả tài sản trước vấn đề trưng thu; và d) thủ tục rõ ràng dành cho việc giải quyết xung đột giữa các nhà đầu tư và chính phủ.
Bảo vệ môi trường trong các PTA của Mỹ
Vào tháng 1/1993, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã thiết lập một tiêu chuẩn mới trong các cuộc đàm phán thương mại khi ông tuyên bố rằng NAFTA sẽ không được ký kết cho đến khi trách nhiệm của các bên trong vấn đề bảo vệ môi trường và pháp luật lao động được xem xét. Canada và Mexico miễn cưỡng đồng ý ủng hộ Hiệp định với một số nghĩa vụ bổ sung và quy định về vấn đề giải quyết xung đột nằm trong dự thảo đầu tiên của Hiệp định. Thỏa thuận của mỗi bên được bổ sung bằng một Hiệp định hợp tác song phương nhằm tạo ra một lập trường vững chắc chống lại sự lạm dụng môi trường và lao động.
Không có kế hoạch nào dựa trên cơ sở hợp tác lẫn nhau thất bại trong việc thực thi do thiếu kinh phí mục tiêu. Tuy nhiên, vấn đề môi trường đã tạo ra một tiền lệ quan trọng đối với các hiệp định thương mại của Mỹ trong tương lai, và tương tự đối với các vấn đề quyền lao động đã bị bỏ quên trong nhiều năm.
Các PTA tiếp theo của Mỹ thường có một chương về các vấn đề môi trường. Các nghĩa vụ tương ứng của các bên được xem xét thông qua một thủ tục giải quyết tranh chấp chung. Các PTA gần đây với Colombia, Peru và Hàn Quốc có các cam kết mới về vấn đề kiểm soát nạn phá rừng và hiện tượng sinh khối đại dương toàn cầu, yêu cầu minh bạch hơn trong các quy định của chính phủ, hỗ trợ kỹ thuật và hợp tác trong bối cảnh của một Hiệp ước song phương về môi trường.
Mỹ muốn đưa tiền lệ này vào chương môi trường của TPP. Mỹ đặc biệt quan tâm bảo tồn động vật hoang dã. Mỹ muốn buộc các thành viên của TPP thông qua các biện pháp quản lý quốc gia trong đó cấm việc buôn bán "động vật và thực vật hoang dã, dựa trên các bằng chứng đáng tin cậy, là đã vi phạm luật pháp của quốc gia đó hoặc luật pháp nước ngoài, mục đích chính của điều khoản này là nhằm bảo tồn, bảo vệ hoặc quản lý động vật hoặc thực vật hoang dã." Một số vấn đề về môi trường (như khai thác và buôn bán gỗ bất hợp pháp) đã được đưa vào Hiệp định thương mại tự do với Peru.
Bảo vệ lợi ích
Như đã nói ở trên, các giới hạn trong chính trị sẽ ảnh hưởng đến các giao dịch thương mại. Do đó, tự do hóa thương mại thường xảy ra không nhất quán: tiến hai bước về phía trước, rồi lại lùi một bước về phía sau. Khuôn khổ các đại biểu của Mỹ sử dụng trong các cuộc đàm phán PTA cho phép họ nhượng bộ ở hai lĩnh vực: nông nghiệp và dệt may/dệt kim.
Việc tự do hóa một phần thương mại trong các sản phẩm nông nghiệp diễn ra thông qua cơ chế thuế suất theo hạn ngạch (TRQ). Các TRQ là kết hợp của 2 hình thứ bảo hộ: hạn ngạch và thuế quan. Một mặt, thuế suất theo hạn ngạch là một dạng thuế hai tầng: hàng hoá nằm trong khối lượng hạn ngạch được hưởng mức thuế suất thấp, trong khi hàng hóa nhập khẩu vượt hạn mức hạn ngạch sẽ phải chịu thuế rất cao.
Hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ và Hàn Quốc có rất nhiều loại thuế suất theo hạn ngạch. Kế hoạch thuế quan của Hàn Quốc gồm các TRQ cho 19 dòng thuế, trong đó có cá, trái cây, sữa, bột xác sữa thô, bột bắp, lúa mạch,... Phần lớn các TRQ (14 trên 19 dòng thuế) sẽ được loại bỏ trong khoảng thời gian từ 10 đến 18 năm, trong khi 5 TRQs còn lại sẽ vẫn được giữ, mặc dù mức hạn ngạch trong thực tế sẽ tăng theo thời gian. Kế hoạch thuế quan của Mỹ cũng tương tự như vậy: gồm các TRQ cho 26 dòng thuế và liên quan đến các lĩnh vực sản xuất nhạy cảm như sữa, kem, bơ, bột xác sữa thô và đường. Các sản phẩm này sẽ được miễn thuế trong vòng 10 năm kể từ khi TPA bắt đầu đi vào thực thi. Hiệp định thương mại tự do với Colombia và Chile cũng gồm các TRQ về các sản phẩm nhạy cảm như đường, thịt bò và các sản phẩm từ sữa. Chile được quyền tiếp cận không giới hạn đối với thị trường Mỹ, và việc giới hạn thuế suất theo hạn ngạch sẽ có hiệu lực sau bốn năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Theo các Hiệp định thương mại tự do Mỹ-Australia, các TRQ đối với đường và các sản phẩm từ sữa (phô mai, sữa bột, sữa đặc có đường và bột xác sữa thô) sẽ hoàn toàn bị loại bỏ sau 12 năm. Trong Hiệp định thương mại tự do với Colombia, Mỹ thiết lập hạn ngạch cho đường xuất khẩu là 50.000 tấn/năm, với mức tăng hàng năm là 750 tấn. Hạn ngạch cho thịt sẽ được loại bỏ vào năm thứ 10, hạn ngạch cho sữa và bơ sẽ được loại bỏ vào năm thứ 11, và hạn ngạch cho pho mát vào năm thứ 15 sau khi Hiệp định có hiệu lực.
Khi Mỹ cho phép tiếp cận các ngành kinh tế nhạy cảm trong khuôn khổ của một PTA, Mỹ luôn tìm cách loại bỏ dần các rào cản biên giới, cũng như các cơ chế bảo vệ việc sản xuất trong nước không bị ảnh hưởng xấu bởi hàng nhập khẩu. Mỹ đưa ra một số điều khoản đặc biệt trong các Hiệp định nhằm đối phó với sự gia tăng đột ngột về số lượng hàng nhập khẩu bằng cách quay lại mức thuế suất theo điều khoản tối huệ quốc của WTO (MFN). Ví dụ, trong Hiệp định giữa Mỹ với Colombia, Mỹ đã đưa ra điều khoản dạng này đối với thịt bò nhập khẩu từ Colombia. Các biện pháp được quy định trong điều khoản trên sẽ bắt đầu có hiệu lực khi lượng thịt bò nhập khẩu đạt mức 140% thuế suất theo hạn ngạch. Trong trường hợp này, thuế quan bắt đầu thay đổi từ mức 100% xuống còn 50% so với mức chênh lệch giữa mức thuế suất hạn ngạch và mức thuế quan theo MFN, tùy thuộc vào việc vi phạm sẽ kéo dài trong bao lâu.
Điều này có ý nghĩa gì đối với đàm phán TPP? Các mặt hàng nhạy cảm có thể được đưa lên bàn đàm phán, nhưng việc cải cách sẽ diễn ra chậm chạp và miễn cưỡng. Trong nhiều trường hợp, các cuộc đàm phán có thể dẫn đến các cam kết hoàn thành cải cách với một lộ trình thực hiện kéo dài, hoặc có thể dẫn đến việc thỏa thuận tự do hóa từng phần.
Dệt may và hàng dệt kim là một ngành mà các "tiêu chuẩn vàng" của mô hình đàm phán PTA của Mỹ thường xem nhẹ. Các PTA kiểu Mỹ dần dần loại bỏ các loại thuế quan tương đối cao của Mỹ, nhưng lại đưa ra yêu cầu đối với quy tắc xuất xứ (COO) và các điều khoản bảo vệ trong trường hợp hàng nhập khẩu tăng đột ngột. Các biện pháp này làm giảm các lợi ích ròng mà tự do hóa mang lại.
Trong Hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc, Mỹ cam kết ngay lập tức giảm 61% thuế đối với hàng dệt may và hàng dệt kim: 19% thuế sẽ được loại bỏ trong vòng 5 năm và phần còn lại sẽ được trong vòng 10 năm. Hàn Quốc cam kết ngay lập tức hủy bỏ 72% thuế nhập khẩu, 13% trong vòng 3 năm và 15% còn lại trong vòng 5 năm.
Hiệp định đưa ra các biện pháp bảo vệ trong trường hợp có sự gia tăng đột ngột đối với mặt hàng đường nhập khẩu, trong trường hợp đó một trong hai quốc gia có thể chuyển đổi sang mức thuế suất MFN hoặc ngừng giảm thêm thuế.
Về điều kiện xuất xứ, Mỹ áp dụng quy tắc "từ sợi trở đi" ("yarn forward") cho hàng dệt may và hàng dệt kim nhập khẩu. Theo quy tắc này, hàng dệt may phải được kiểm tra dưới ba hình thức để nhận được ưu đãi tiếp cận thị trường. Điều này có nghĩa rằng việc sản xuất sợi, sau đó dùng sợi dệt thành vải và dùng vải đó để may thành sản phẩm đều phải xảy ra trên cùng một lãnh thổ của các quốc gia thành viên TPP. Hiệp định với Hàn Quốc cho phép việc sử dụng các quy tắc "từ sợi trở đi" với một số hỗ trợ nhất định: Khi sử dụng một số loại sợi được sản xuất bởi các nước ngoài Hiệp định vẫn được nhận ưu đãi nếu không quốc gia thành viên nào của PTA sản xuất đủ được loại nguyên liệu trên để dùng cho mục đích thương mại.
Việc hài hòa và giảm mức thuế MFN xuống bằng mức thuế quốc gia thấp nhất có vẻ là một cách tiếp cận thực tế để giải quyết các vấn đề xác định xuất xứ. Cách tiếp cận này sẽ khá khó thực hiện được trong quá trình đàm phán TPP do hầu hết các quốc gia thành viên của Hiệp định đều sử dụng mức thuế quan MFN để bảo vệ ngành công nghiệp trong nước khỏi các sản phẩm của Trung Quốc.
Chủ đề bị cấm trong đàm phán
Lúc bắt đầu bất kỳ cuộc đàm phán nào, các nhà ngoại giao Mỹ đều thông báo rằng không giới hạn chủ đề và bất cứ điều gì cũng có thể thay đổi trong quá trình thảo luận. Tuy nhiên, họ không đề cập đến cái giá của việc thay đổi một số luật lệ và quy định nội bộ của Mỹ là quá cao đối với các đối tác thương mại của Mỹ. Kinh nghiệm từ việc đàm phán PTA với Mỹ đã cho thấy rõ điều này: Mỹ đã liên tục từ chối khi các đối tác yêu cầu Mỹ thay đổi các quy định về chống bán phá giá và luật lao động trong ngành dịch vụ.
Các thành viên của Quốc hội Mỹ khăng khăng rằng các Hiệp định thương mại Mỹ ký kết không được làm phức tạp thêm việc bảo vệ các ngành kinh tế Mỹ trước hàng nhập khẩu với luật chống bán phá giá. Tăng chọn lọc thông qua việc đánh thuế, bao gồm thay đổi các tiêu chuẩn để xác định trường hợp bán phá giá và đánh giá mức độ thiệt hại đã được các nhà chức trách Mỹ sử dụng trong việc quản lý luật pháp của mình, sẽ không thay đổi trước những ảnh hưởng từ bên ngoài.
Các quan chức Mỹ thường xem trách nhiệm của mình là giữ vững và không nới lỏng luật chống bán phá giá. Mỹ sẽ thực hiện những cải cách nhằm tăng cường tính minh bạch và tăng trách nhiệm giải trình trong việc thực thi luật chống bán phá giá. Ngoài ra, sẽ không có thay đổi nào khác liên quan đến chống bán phá giá trong các cuộc đàm phán PTA.
Một chủ đề "cấm" khác là chính sách nhập cư, trong đó, theo các thành viên Quốc hội Mỹ, là bao gồm cả vấn đề lao động tạm thời. Các mối nghi ngờ chính trị này bắt nguồn từ việc Mỹ lo ngại rằng công nhân tạm thời sẽ ở lại Mỹ bất hợp pháp, bất chấp các điều khoản đảm bảo các lao động tạm thời sẽ phải quay về nước được đề ra trong PTA. Áp lực chính trị đối với vấn đề nhập cư bất hợp pháp khiến các nhà lập pháp Mỹ không thể bỏ qua vấn đề này khi xem xét các vấn đề cụ thể trong chính sách thương mại, vì họ sợ bị cáo buộc khuyến khích nhập cư bất hợp pháp.
Barbara Konstantinovna Remchukova - Sinh viên tốt nghiệp tại Đại học MGIMO Bộ Ngoại giao Nga và là thành viên của ban giám đốc tại Nezavisimaya Gazeta.
Theo watchingamerica.com - TV
Từ khóa: Mỹ, Hoa Kỳ, quan điểm, đàm phán, hiệp định thương mại tự do, hiệp định thương mại ưu đãi
Các tin khác
- Doanh nghiệp Việt Nam và đường vòng tới AEC - 30/01/2015
- Mỹ, Nhật gần đạt được những thỏa thuận quan trọng trong TPP - 30/01/2015
- 8 năm gia nhập WTO: Trâu chậm uống nước đục - 01/12/2014
- Con đường Tơ lụa - con bài đối trọng với Xoay trục của Mỹ - 12/11/2014
- Nhiều quan điểm khác nhau về tác động của việc Trung Quốc cắt giảm nhập khẩu bông - 02/10/2014






















