JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnToàn cầu hóa hay quyền lợi cho phụ nữ? – Phần 3

Toàn cầu hóa hay quyền lợi cho phụ nữ? – Phần 3

toan cau hoa 1

Kate Lappin là điều phối viên khu vực của diễn đàn châu Á Thái Bình Dương về vấn đề phụ nữ, luật pháp và phát triển, một mạng lưới 220 tổ chức vì quyền lợi phụ nữ và các phong trào trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

*Bài viết chỉ phản ánh quan điểm của riêng tác giả.

Sau 30 năm diễn ra toàn cầu tóa, nhiều người càng nhận ra rằng, sự khắc khổ, tư hữu hóa, giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ vào chính sách tiền tệ, các thị trường và các doanh nghiệp, tự do hóa thương mại và tự do hóa đầu tư là những yếu tố đã tác động xấu và mang tính phân biệt đối với phụ nữ. Các chuyên gia tại Liên Hiệp Quốc, các nhóm nước trong hiệp ước và các tổ chức quốc tế phi chính phủ đã phải hứng chịu sự chỉ trích triền miên trong xã hội và nhận ra rằng, chủ nghĩa tân tự do có tác động ngược và mang tính phân biệt đối xử dành cho nữ giới. Một chuyển biến đáng chú ý là việc ngay cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hiện nay cũng đang tỏ ra lo ngại, trước bằng chứng cho thấy các chính sách tân tự do là nguyên nhân dẫn đến bất công. Rõ ràng rằng chủ nghĩa tân tự do có phân biệt về giới và hoàn toàn không có khả năng đem lại sự công bằng giữa nam và nữ cũng như không thể đem lại sự phát triển bền vững.

Phần 3:

Ngăn cản các chính sách nâng đỡ

(Chính sách nâng đỡ-Affirmative action-chính sách ưu đãi các nhóm người thiệt thòi vì chịu sự phân biệt đối xử trong xã hội)

RCEP có thể hạn chế khả năng của chính phủ trong việc dùng các công cụ đặc biệt tạm thời để loại bỏ tình trạng phân biệt đối xử. Mục 4 trong Công ước về ‘xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ’ (CEDAW) bắt buộc chính phủ các nước phải dùng “các biện pháp đặc biệt tạm thời” hay chính sách nâng đỡ để xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử với nữ giới. Trong bản Khuyến nghị chung số 25, Ủy ban CEDAW còn làm rõ thêm, các biện pháp tạm thời có thể được sử dụng cho đến khi đạt được kết quả mong muốn trên tất cả các mặt trọng yếu.

Ủy ban CEDAW cung cấp một danh sách tổng quát các biện pháp tạm thời có thể được áp dụng, bao gồm: quy định pháp lý trong khâu lập pháp, hành pháp, hành chính; chính sách và thực tiễn, như các chương trình hỗ trợ hay tiếp cận cộng đồng; phân bổ và tái phân bổ nguồn lực; đối xử ưu đãi; tuyển dụng, thuê mướn và bổ nhiệm có chủ đích; đặt mục tiêu về số lượng trong một khoảng thời gian xác định; và tỷ lệ tối đa được phép.

Chính phủ dùng một loạt các chính sách để giúp phụ nữ ở nông thôn được có cơ hội sở hữu quyền sử dụng đất, được tiếp cận thị trường, và hỗ trợ hoạt động sản xuất ở địa phương. Bởi vì chính phủ là người mua hàng lớn nhất trong hầu hết các thị trường, thế nên hoạt động mua sắm chính phủ nếu có ưu tiên cho nữ giới sẽ hỗ trợ kế sinh nhai của phụ nữ ở nông thôn và giúp bảo tồn các ngành nghề địa phương. Tuy nhiên, bởi vì các hiệp định thương mại có quy định về mua sắm chính phủ, thế nên trong hoạt động này (ngoại trừ một số ngành được bảo hộ), chính phủ sẽ phải đối xử công bằng với nhà đầu tư nước ngoài, tức có nghĩa, chính phủ không được phép ưu đãi cho doanh nghiệp địa phương. Gần đây, Ấn Độ bày tỏ lo ngại về chương mua sắm chính phủ trong RCEP, bởi vì theo các điều khoản dự thảo, chính phủ sẽ bị hạn chế khả năng ưu tiên phụ nữ vùng nông thôn và các nhóm đối tượng khác trong hoạt động mua sắm công. Một ví dụ tương tự khác có thể kể đến, đó là hiện nay, một vài nước đang áp dụng quy định giảm thuế hoặc lệ phí cho phụ nữ khi họ đứng tên hoặc đồng sở hữu quyền sử dụng đất, thế nhưng, các điều khoản trong hiệp định thương mại yêu cầu đối xử công bằng giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước (hay còn gọi là điều khoản “đối đãi quốc gia”) có thể sẽ cấm chính phủ tiến hành các hoạt động ưu đãi trên, trừ khi các nhà đầu tư nước ngoài cũng nhận được ưu đãi tương tự.

Ủy ban CEDAW đã lưu ý các nước không nên chỉ tập trung giải quyết tình trạng phân biệt đối xử trực tiếp, và cũng không nên chỉ dừng lại ở việc trao cơ hội ngang nhau cho nam giới và nữ giới. Mà các nước phải tạo ra công bằng thực sự, tức có nghĩa tạo ra “một môi trường để con người có thể đạt được kết quả công bằng”. Các quốc gia phải giải quyết cả các dạng phân biệt gián tiếp, ví dụ như, các quyết định chính sách tuy mang tính trung lập nhưng có thể gián tiếp dẫn đến kết quả không công bằng và làm sâu sắc thêm khoảng cách giữa nam và nữ cũng như các vấn đề khác. Lấy ví dụ, một quyết định tư nhân hóa lĩnh vực nước sinh hoạt có thể không hoàn toàn mang tính phân biệt đối xử, tuy nhiên lại hình thành nên một dạng phân biệt gián tiếp khác nếu quyết định trên dẫn đến việc phụ nữ, những người thường xuyên phải chịu gánh nặng từ việc lấy nước, phải đi thêm một quãng đường xa hơn và làm lãng phí thêm thời gian của họ. Ủy ban CEDAW cũng lưu ý, đạt được công bằng thực sự đòi hỏi phải có các chính sách phổ quát trong vấn đề phân phối hàng hóa công. Trong Bình luận chung số 20 về không phân biệt đối xử, Ủy ban CEDAW kiến nghị các nước “đảm bảo rằng mỗi cá nhân phải có quyền tiếp cận như nhau trong vấn đề nhà ở, nước sạch và vệ sinh. Điều đó sẽ giúp giải quyết được tình trạng bất công đối với phụ nữ và trẻ em gái, cũng như những người sống trong những nơi trú ngụ tạm bợ ở khu vực nông thôn”.

Các chính sách nâng đỡ của chính phủ có thể đối mặt với các vụ kiện tụng tốn kém theo cơ chế ISDS, nếu như các chính sách đó được cho rằng sẽ làm giảm lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài. Điển hình như Nam Phi, nước này đã bị kiện bởi một nhóm doanh nghiệp đến từ Ý, vì cho rằng các điều khoản trong Đạo luật Phát triển Nguồn lực Xăng dầu và Khoáng chất yêu cầu 50% cổ phần của doanh nghiệp khai thác mỏ phải được bán cho người dân da màu tại Nam Phi (bắt nguồn từ đạo luật Black Economic Empowerment nhằm phát triển kinh tế cho người da màu ở nước này) vi phạm Hiệp định đầu tư song phương Benelux – Nam Phi và Ý – Nam Phi. Tòa án Hiến pháp Nam Phi trước đó đã ra phán quyết rằng chính phủ không cần phải trả lại cho nhà đầu tư tài sản chiếm đoạt mà chỉ cần đền bù là đủ. Tuy nhiên sau đó, khi các nhà đầu tư đe dọa sẽ kiện tiếp lên Trung tâm Quốc tế về Giải quyết tranh chấp và Đầu tư của Ngân hàng thế giới, chính phủ Nam Phi buộc phải giảm tỷ lệ trên xuống còn 26%. Kể từ đó, Nam Phi đã quyết định xóa bỏ hết toàn bộ các hiệp định đầu tư song phương có cơ chế ISDS. Tương tự, bất cứ chính sách nâng đỡ nào của chính phủ để dành lại công bằng cho phụ nữ cũng có thể đối mặt với việc kiện tụng.

Quyền lao động của phụ nữ

Các hiệp định thương mại ưu đãi được thiết kế để thuận lợi hóa việc cạnh tranh trên thị trường và giúp cho dòng vốn trên toàn cầu được chu chuyển tự do hơn, gia tăng khả năng tiếp cận nguồn lực và lao động giá rẻ trong các quốc gia thành viên của Hiệp định. Các nhà đầu tư bị thu hút bởi lực lượng lao động giá rẻ, không có tổ chức công đoàn, và không được kiểm soát ở các nước như Campuchia, Myanmar và Việt Nam. Kết quả là, các hiệp định thương mại ưu đãi sẽ kéo mức lương đi xuống nhằm giá hàng xuất khẩu được rẻ hơn. Các ngành công nghiệp xuất khẩu thường có chi phí biên tế nhỏ, vì vậy, để hạ giá thành sản phẩm, lương và các điều kiện lao động thường là các mục tiêu mà chủ doanh nghiệp nhắm đến.

NAFTA là một ví dụ tốt về các kết quả có thể có nếu như một hiệp định thương mại bao gồm các quốc gia ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Mặc dù sau khi ký hiệp định, năng suất lao động và kim ngạch xuất khẩu đều tăng, thế nhưng tiền lương ở Mexico đã giảm đến 20% từ năm 1994 đến năm 2011. Và bởi vì nữ giới chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong lực lượng lao động ở khu vực xuất khẩu, họ sẽ là đối tượng có khả năng cao bị ép giảm lương, điều kiện lao động và quyền lợi lao động.

Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước cũng được sử dụng để gây khó khăn cho việc tăng lương và điều kiện lao động (lấy ví dụ như vụ kiện của Tập đoàn Veolia chống lại chính phủ Ai Cập), và các chuyên gia Liên Hiệp Quốc đã lưu ý các vụ việc như vậy sẽ có “tác dụng răn đe” lên chính phủ, khiến chính phủ nhát tay trong việc ban hành chính sách. Bởi vì phụ nữ là bộ phận đông nhất trong phân khúc lao động thu nhập thấp và trung bình, thế nên họ phụ thuộc vào cơ chế thiết lập mức lương của chính phủ nhiều hơn là nam giới.

Thương mại có bình đẳng giới?

Các nước đang bắt đầu nhận ra rằng, các hiệp định thương mại có tác động nghịch lên quyền lợi của nữ giới. Vì vậy, Hiệp định thương mại Canada – Chile và Chile – Uruguay đã được đính kèm thêm chương về bình đẳng giới, và Canada hiện nay cũng đang mong muốn thêm chương về bình đẳng giới vào NAFTA phiên bản mới. Còn về RCEP, hiện nay hiệp định này không bao gồm chương về giới, cũng không có chương về lao động và môi trường, trong khi TPP có 2 nội dung nay. Tuy nhiên, chương về giới mà Canada đang ra sức bảo vệ, cũng giống như vấn đề lao động, rất khó thực thi trên thực thực tế, có rất ít hoặc thậm chí không có giá trị nào cả.

Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển đã phân tích về các chương trên và nhận thấy các thiếu sót sau:

(a)  Các hiệp định thương mại thiếu các tiêu chuẩn cụ thể liên quan đến giới tính mà có thể tác động đến thương mại. Thay vào đó, các nước cam kết về vấn đề bình đẳng giới thông qua các Công ước quốc tế.

(b) Không có các cột mốc hoặc các mục tiêu cụ thể

(c) Cơ chế giải quyết tranh chấp không áp dụng cho chương về giới.

(d) Hài hòa hóa luật pháp liên quan đến giới tính giữa các nước thành viên hiệp định vẫn chưa bắt buộc.

(e) Mục tiêu tự do hóa thương mại mà các Hiệp định đang theo đuổi có thể ảnh hưởng đến sự thịnh vượng của phụ nữ và không thể giải quyết vấn đề trao quyền kinh tế cho phụ nữ.

Có quá nhiều điều quá trong RCEP đặt phụ nữ vào tình cảnh nguy hiệm. Nếu như mục đích của các hiệp định thương mại là vì lợi ích cho toàn thể mọi người, thì trước và sau khi thực thi hiệp định, các nước cần phải đánh giá xem lợi ích từ hiệp định có được phân bổ đồng đều giữa người với người, và giữa nam và nữ hay không? Hiện nay, không có bất kỳ đánh giá nào để xem xét tác động của Hiệp định RCEP lên nhân quyền, giới tính hay thậm chí là kinh tế. Để cứu vớt hiệp định, không phải chỉ cần thêm Chương về giới là đủ, mà các nước còn cần phải xây dựng hiệp định thương mại tập trung vào con người, dựa trên tinh thần đoàn kết. Khi đó, một chương về bình đẳng giới sẽ cần phải bao gồm các điều khoản tối thiểu sau:

Tất cả các nước tham gia phải phê chuẩn Công ước về ‘xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ’ (CEDAW) và các Nghị định thư không bắt buộc.

Tất cả các bên tham gia hiệp định sẽ thông qua, duy trì và thực thi các đạo luật, quy định hay bất kỳ công cụ nào khác để thực hiện nghĩa vụ theo Công ước CEDAW.

Phải có biện pháp trừng phạt, bao gồm án phạt dân sự và hình sự, để có thể bảo vệ phụ nữ trước   sự đối xử bất công của nhà đầu tư.

Nội dung của Hiệp định phải không được hạn chế việc chính phủ ban hành mới hoặc duy trì các quy định nhằm tuân thủ công ước CEDAW, và nhà đầu tư không thể khởi kiện bất kỳ biện pháp nào mà chính phủ sử dụng nhằm tuân thủ chương về giới trong Hiệp định.

Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã thông qua một giải pháp cho vấn đề trên, đó là một Hiệp ước ràng buộc nghĩa vụ của các tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp khác. Tham gia hiệp ước đó nên là điều kiện tiên quyết để gia nhập bất kỳ một hiệp định thương mại hay hiệp định đầu tư nào trong tương lai. Và trong khi nhà đầu tư đã có hệ thống ISDS để bảo vệ quyền lợi của mình, thì hiện nay, vẫn chưa có một hệ thống toàn cầu nào để bắt nhà đầu tư chịu trách nhiệm cho các sai phạm của họ trong vấn đề quyền của lao động nữ.

Kết luận

RCEP được xem là hiệp định thương mại của thế kỷ 21 nhằm giải quyết các vấn đề thương mại hiện đại. Thế nhưng, Hiệp định này lại làm trọng trọng thêm các mối đe dọa chính trong thế kỷ 21, là biến đổi khí hậu và bất bình đẳng leo thang. Bằng việc hạn chế sự can thiệp của nhà nước trong các vấn đề công và môi trường, bằng việc tạo ra một khuôn khổ pháp lý làm lợi cho các tập đoàn đa quốc gia và những người giàu có, các hiệp định thương mại và đầu tư chỉ càng làm sâu sắc thêm vấn đề bất bình đẳng giới.

RCEP sẽ chỉ có lợi cho một số ít người, nhưng lại sẽ gây ra các tác hại to lớn cho bộ phận dân chúng đang đứng bên lề của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đó là phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người nhập cư và những người không có tư bản hay quyền lực chính trị. Nếu các quốc gia ở châu Á – Thái Bình Dương giữ đúng các cam kết về bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ, các nước này không nên tiếp tục triển khai RCEP mà thay vào đó, nên khẩn trương thực thi các chính sách về kinh tế nhằm tái phân bổ quyền lực, nguồn lực và của cải giữa nam giới và nữ giới, giữa người giàu và người nghèo.

Nguồn:  Stratfor – TQ

Từ khóa: phụ nữ, phân biệt, RCEP, bất bình đẳng, chính sách nâng đỡ, quyền lao động.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008749896
Go to top