
RCEP chỉ mới hướng đến tự do hóa thuế quan mà bỏ ngỏ vấn đề rào cản phi thuế quan.
Vòng đàm phán thứ 19 của RCEP diễn ra tại Hyderabad tháng trước vừa kết thúc với một lượng đáng kể những nội dung không đạt được sự đồng thuận giữa các bên, liên quan đến triển vọng của hiệp định. Ấn Độ đang bị xem như là một“kẻ phá bỉnh” khi không sẵn lòng nhượng bộ, cắt giảm những rào cản thuế quan theo yêu cầu của các thành viên còn lại trong RCEP. Mặc dù vậy, Ấn Độ có thể sẽ sớm phải chấp nhận cắt giảm nhiều hơn do áp lực từ các bên ngày càng gia tăng, khi vòng đàm phán bước vào giai đoạn kết thúc. Hiệp định RCEP, đến thời điểm hiện tại, đã rất thành công trong việc tạo ra một biểu tượng kiến trúc kinh tế “ASEAN cộng”. Sau 50 năm, ASEAN vẫn đang tồn tại và không ngừng phát triển. Hội nhập kinh tế và thương mại là dấu ấn tiêu biểu của khuôn khổ khu vực ASEAN. Tầm hoạt động của ASEAN đã lan rộng ra khỏi khu vực Đông Nam Á, tiến vào những lục địa khác của Châu Á thông qua các Hiệp định thương mại tự do (FTA) ASEAN+1, bao gồm 5 FTA mà ASEAN đã ký với các quốc gia khác như: Australia và New Zealand, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật và Hàn Quốc. Hiệp định RCEP được dự kiến sẽ trở thành FTA “Mẹ” của những FTA ASEAN+1 trước đó khi mà sáu thành viên tham gia ký kết đều là đối tác trước đây của ASEAN. Nếu hiệp định khổng lồ này được ký kết, nó rõ ràng sẽ là Hiệp định thương mại tự do lớn nhất trên thế giới và có thể xem là một cột mốc quan trọng trong 50 năm tồn tại của ASEAN. Nó có thể biến ASEAN thành tổ chức đi đầu trong nỗ lực thúc đẩy hội nhập kinh tế thế giới. Khả năng xúc tiến thương mại toàn cầu của RCEP - thông qua các hiệp ước khu vực - sẽ được thiết lập vững chắc, khi mà TPP đã thất bại. Đây cũng sẽ là tín hiệu thể hiện thiện chí của những quốc gia lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật và Úc, hợp tác với ASEAN, cùng trở thành một thế lực ổn định trong khu vực.
Mặc dù chủ nghĩa khu vực Châu Á được lợi khá nhiều từ RCEP, việc phân định giữa lợi ích chiến lược và lợi ích kinh tế trong một hiệp định thương mại vẫn rất quan trọng. Lợi ích chiến lược dĩ nhiên là phần trọng yếu. Bên cạnh những lợi thế chính trị mà nó tạo ra cho khuôn khổ ASEAN, các thành viên coi hiệp định RCEP như một chính sách bảo hiểm quan trọng. Các hiệp định hợp tác về kinh tế và thương mại từ lâu đã luôn được xem là biện pháp xây dựng lòng tin hữu hiệu, nhằm tránh xảy ra xung đột giữa các quốc gia. Chính tổ chức ASEAN cũng là minh chứng rõ ràng cho điều này. Ràng buộc về thể chế kinh tế trong khu vực giúp đảm bảo rằng những khác biệt về đặt điểm chính trị trong nội bộ các nước Đông Nam Á, hoặc giữa khu vực Đông Nam Á với các nước đối tác, sẽ không dẫn đến tình trạng mất kiểm soát. Ngoài ra, hiệp định RCEP, nếu được ký kết, sẽ có thể có những tác động rộng hơn, điển hình là làm dịu bớt tình hình căng thẳng trong mối quan hệ song phương giữa Trung Quốc và Ấn Độ hay Trung Quốc và Nhật Bản, vì các nước đã cùng là thành viên của RCEP. Vào thời điểm hiện tại, người ta lo sợ rằng, căng thẳng trong mối quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc có thể làm ảnh hưởng đến tiến trình thỏa thuận của RCEP. Nếu RCEP được ký kết, hiệp định này có thể tạo ra một nền tảng cho phép Ấn Độ và Trung Quốc tiếp xúc, mở ra cơ hội cho những hợp tác mang tính xây dựng hơn, như những gì họ đã từng làm trong khối BRICS.
Khác với các lợi ích chiến lược, những lợi ích kinh tế thu được từ RCEP có thể sẽ không đáng kể. Mặc dù người ta đã xây dựng khá nhiều mô hình, dựa trên các giả định định lượng, đưa ra nhiều ước lượng về lợi ích kinh tế từ hiệp định RCEP, nhưng kết quả thu được gần như sẽ không thể miêu tả chính xác bức tranh thực tế. Nguyên nhân là do, những mô hìnhnày, chỉ được xây dựng dựa trên sự tự do hóa về thuế quan giữa các quốc gia, mà không tính tới sự tồn tại của các rào cản phi thuế quan trong khu vực RCEP, những yếu tố đang gây cản trở đáng kể đến hoạt động thương mại ở khu vực. Dữ liệu về những rào cản này cho thấy sự ảnh hưởng to lớn của các quy định về chất lượng, tiêu chuẩn quốc gia của các thành viên RCEP đến hoạt động xuất nhập khẩu, gây khó khăn cho nhiều nhà xuất khẩu trong việc tìm kiếm lối vào thị trường của những quốc gia này.
Rào cản phi thuế quan trong RCEP
Hai rào cản phi thuế quan thông dụng nhất là SPS và TBT. “Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật” (gọi tắt là SPS) là công cụ dùng để điều tiết hàng nông nghiệp nhập khẩu dựa trên những điều kiện liên quan đến bảo vệ an toàn, sức khỏe động thực vật và con người. Công cụ thứ hai là “Hàng rào kỹ thuật trong thương mại” (gọi tắt là TBT), tập trung chủ yếu vào việc điều tiết tác động của hàng hóa đến môi trường, hệ sinh thái và con người. Theo dữ liệu thống kê từ WTO, các nước thành viên RCEP hiện đang áp dụng tổng cộng 570 công cụ SPS và 373 công cụ TBT. Trong đó, Philipines (142), Trung Quốc (119) và New Zealand (88), là những nước sử dụng nhiều công cụ SPS nhất, chiếm hơn 60% số lượng SPS trong RCEP. Tương tự, Trung Quốc (104), Hàn Quốc (77), và Nhật Bản (59), là những nước sử dụng nhiều công cụ TBT nhất, chiếm hơn 60% tổng số công cụ TBT được sự dụng trong các nước thành viên RCEP. Cần phải chú ý rằng, các số liệu nêu trên chỉ mới là phần mà các quốc gia đã báo cáo lại cho WTO. Các nước có thể vẫn còn sử dụng nhiều công cụ điều tiết khác mà không báo cáo với WTO. Ví dụ như Ấn Độ, thật bất ngờ khi Ấn Độ được xếp vào nhóm sử dụng tương đối thấp các công cụ này (được ghi nhận là sử dụng 44 SPS và 1 TBT).
Điểm cần lưu ý là các công cụ SPS và TBT rất khó bị loại bỏ, vì đó là những quy định quốc nội và là một phần của tiêu chuẩn chất lượng quốc gia. Tầm quan trọng của các tiêu chuẩn này, trên quan điểm bảo vệ an toàn và sức khỏe, là không thể bàn cãi. Nhưng đồng thời, những tiêu chuẩn này cũng bị lợi dụng, trở thành công cụ để các chính phủ chi phối hàng hóa nhập khẩu. Nhìn chung, trên toàn cầu, chủ nghĩa bảo hộ thương mại đang chuyển hướng, tập trung nhiều hơn vào việc tạo ra các trở ngại trong thủ tục đối với hoạt động nhập khẩu– điều mà các công cụ SPS và TBT đã làm rất hiệu quả. Tình trạng này buộc các nhà sản xuất phải mất thêm nhiều chi phí cho việc kiểm tra chất lượng hàng hóa và đăng kí chứng nhận chất lượng, dẫn đến làm nản lòng các nhà xuất khẩu.
Tiến trình đàm phán của hiệp định RCEP dường như sẽ nhanh chóng đi đến điểm kết thúc bằng sự đồng thuận về một biểu thuế quan chung. Tuy nhiên, điều này sẽ chỉ tạo ra một thỏa thuận thương mại có phạm vi hẹp và không có khả năng tác động sâu sắc đến lĩnh vực xuất nhập khấu như mong đợi. Thật không may, sự vội vã tìm đến một thỏa thuận và sự không sẵn lòng giải quyết các vần đề về tiêu chuẩn quốc gia riêng sẽ khiến cho các rào cản phi thuế quan gần như không bị ảnh hưởng. Vì vậy, mặc dù hiệp định RCEP có thể sẽ đạt được nhiều thành tích mang tính biểu tượng và lợi ích chiến lược, nó gần như không thể tạo ra những tăng trưởng đáng kể cho thương mại khu vực.
Nguồn: Financial Express
Từ khóa: RCEP, tính biểu tượng cao, tính thương mại thấp
Các tin khác
- Thủ tục đăng ký đầu tư tại Việt Nam: Liệu đã phù hợp với Hiệp định EVFTA? - 24/08/2017
- Tận dụng ưu đãi trong Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Úc – Niu Di Lân để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam - 24/08/2017
- Tái đàm phán NAFTA: Chỉ được tiến chứ không lùi - 24/08/2017
- Khó hạn chế nhập siêu trong ngắn hạn - 24/08/2017
- Sự lên ngôi của chủ nghĩa dân túy không còn là điều bất ngờ - 24/08/2017






















