JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnĐàm phán chính sách thương mại mới của Anh

Đàm phán chính sách thương mại mới của Anh

Anh

Trong hơn bốn thập kỷ, EU là người thay mặt đại diện cho Vương quốc Anh nắm và quản lý hầu hết các chính sách thương mại quốc tế. Brexit đã làm thay đổi tất cả, nước Anh giờ đây cần phải thảo luận và xác định tham vọng của mình về chính sách thương mại quốc tế và sau đó đàm phán với các đối tác của mình. Chính phủ Anh sẽ phải tái thiết lại các liên kết thương mại với EU, và với các quốc gia thứ ba nhưng vướng là Anh có các cam kết để EU thay mặt làm đại diện tại WTO. Bài viết này đề cập đến một số chiến lược mà chính phủ Anh có thể tham khảo trong tiến trình tái lập chính sách thương mại của mình. Điều cần thiết là nên đơn giản và hợp tác. Duy trì sự tín nhiệm của các đối tác thương mại sẽ trở thành một ưu tiên ngoại giao rất cao.

Rời khỏi EU, Vương quốc Anh sẽ phải tái khẳng định vị thế của nó như là một thành viên độc lập của WTO và sẽ cần phải xác định tất cả các chi tiết chính sách thương mại của mình trong khuôn khổ WTO. Tuy nhiên, các quy định của WTO về tiếp cận thị trường hẹp hơn đáng kể so với thị trường chung EU hoặc các FTA mà EU đã đàm phán với các đối tác khác.

Hơn nữa, việc EU rút ra khỏi cam kết để EU làm đại diện ở WTO là cả một vấn đề phức tạp, nó đòi hỏi phải tiến hành đàm phán. Điều này cảnh báo rằng việc "phương án WTO” đối với thương mại Anh không phải là chuyện đơn giản hoặc hấp dẫn cho thương mại của Anh –có nghĩa là để duy trì xuất khẩu đòi hỏi chúng ta phải làm tốt hơn thế. Chìa khóa để có thể làm tốt hơn là nuôi dưỡng sự hợp tác và thiện chí với các thành viên EU còn lại (EU27) và các đối tác khác trong WTO. Đó là một thách thức ngoại giao.

Tình hình hiện nay và hậu Brexit

Cho đến khi các thủ tục theo Điều 50 Hiệp ước thành lập EU được hoàn tất, Vương quốc Anh vẫn là một thành viên đầy đủ của Liên minh châu Âu với quyền tiếp cận với thị trường chung và chính sách thương mại đã được xác định của EU và thực thi bởi Ủy ban châu Âu. Tất cả các hiệp định của EU hiện có với các thành viên WTO khác vẫn sẽ áp dụng và thương mại xuất nhập khẩu của Anh với các đối tác EU và các nước thứ ba sẽ không có gì thay đổi như trước khi tiến hành trưng cầu dân ý.

Sau Brexit, chính phủ Anh đã hoàn toàn kiểm soát toàn bộ việc đối xử với hàng hóa nhập khẩu (theo các cam kết WTO) và Anh hoàn toàn có thể chọn cách tiếp tục áp dụng các chính sách tương tự như trước đây. Điều này sẽ phù hợp với lộ trình thuế quan và dịch vụ như tư cách một thành viên WTO đã cam kết trong Vòng đàm phán Uruguay và sau đó có thể sửa đổi theo dự tính mở rộng hơn của EU.

Nếu Anh quyết định nâng các rào cản lên cao hơn nữa, điều này về nguyên tắc sẽ phải tiến hành đàm phán lại với các thành viên WTO bị ảnh hưởng. Chúng tôi hoàn toàn không ủng hộ cách tiếp cận này. Anh không nên nâng thêm rào cản mà nên duy trì như hiện nay hoặc thậm chí là có thể giảm thấp hơn vì hai lý do. Thứ nhất, đây sẽ là chính sách tốt, thứ hai nó giúp giảm gánh nặng của việc đàm phán lại. Tăng rào cản làm cho các nhà xuất khẩu nước ngoài tức giận, điều này có thể làm phức tạp thêm các cuộc đàm phán thương mại mà Anh phải tiến hành trong những năm tới.

Ba câu hỏi lớn

Cho đến nay, chúng ta chưa biết mục tiêu của chính phủ Anh khi nói đến chính sách thương mại. Và tất nhiên là cũng không thể biết các quốc gia khác sẽ đối xử xuất khẩu với UK như thế nào. Chúng ta có thể chia các đối tác thương mại của Anh ra làm 3 nhóm:

  • 27 quốc gia thuộc liên minh châu Âu - EU27;
  • Những quốc gia đã đàm phán, hoặc đang đàm phán, thỏa thuận thương mại ưu đãi với EU (ví dụ Thổ Nhĩ Kỳ); và
  • Những quốc gia có quan hệ tối huệ quốc (MFN) với EU dựa trên lộ trình thuế quan và dịch vụ đã đàm phán ở WTO (ví dụ Mỹ).

Mối quan hệ với EU27 là phức tạp nhất vì nó không rõ ràng, cho dù Hiệp ước về các Chức năng của Liên minh châu Âu (TFEU) cho phép tiến hành đàm phán các thỏa thuận hậu Brexit giữa Vương quốc Anh và EU27 song song với các cuộc đàm phán thoát ly ra khỏi EU theo Điều 50.

Nếu như EU27 không cho phép đàm phán một mối quan hệ thương mại mới cho đến khi Anh hoàn thành thủ tục rời khỏi EU, hoặc nếu các cuộc đàm phán các thỏa thuận thương mại mới không được hoàn thành vào thời điểm cuối của các cuộc đàm phán rời khỏi EU, thì mặc định cả hai bên sẽ đối xử với nhau theo quy tắc MFN, việc này không được cả hai bên mong muốn. Ví dụ, 44% xuất khẩu của Anh sang EU đang được miễn thuế quan và các rào cản phi thuế rất thấp của thị trường chung. Nếu các giao dịch được thực hiện theo quy tắc MFN, khoảng 16% xuất khẩu của Anh sang EU27 sẽ phải đối mặt với mức thuế trên 7%, trong đó xe ô tô phải chịu thuế suất 10%. Mức thuế MFN bình quân của EU là 5,3%.

Vướng cam kết của Anh và EU tại WTO

Có một số vấn đề truyền thống rất nhạy cảm cần phải giải quyết. Ví dụ, giới hạn chi tiêu của EU cho trợ cấp nông nghiệp bóp méo thương mại theo Hiệp định của WTO về Nông nghiệp là một con số duy nhất mà sẽ cần phải được phân chia giữa Vương quốc Anh và EU27. Điều này đòi hỏi một cuộc đàm phán ba bên với bên thứ ba, trong đó có thể liên quan đến lợi ích trong việc phân chia vì Vương quốc Anh và các thành viên khác sẽ có các nhu cầu trợ cấp nông nghiệp khác nhau.

Quay sang lĩnh vực dịch vụ, EU chiếm khoảng 50% xuất khẩu dịch vụ của Anh và là đối tác thương mại quan trọng nhất về các ngành dịch vụ chính, như dịch vụ chuyên nghiệp, khoa học và kỹ thuật, thông tin, các dịch vụ thông tin liên lạc và các dịch vụ tài chính và bảo hiểm.

Rất khó để đánh giá sự thay đổi về các rào cản thương mại hậu Brexit có thể có bởi vì thị trường chung không còn nữa (ví dụ: một số dịch vụ rào cản tồn tại trong EU) và vì không có chính sách thương mại bên ngoài EU thống nhất cho tất cả các ngành dịch vụ. Lộ trình GATS của EU đưa ra một khuôn khổ cho việc tiếp cận thị trường áp dụng theo từng quốc gia riêng lẻ từng ngành và phương thức cung cấp cụ thể. Điều này có nghĩa là tiến trình đàm phán một thỏa thuận sau này sẽ lâu dài và phức tạp, mất rất nhiều thời gian vì nó yêu cầu đàm phán với tất cả các quốc gia thành viên EU cũng như với Ủy ban châu Âu. Hơn thế nữa, mặc dù các thành viên EU áp dụng chính sách nhập khẩu dịch vụ thường tự do hơn so với cam kết GATS của họ, nhưng chỉ sau khi được bảo đảm, do đó ngay cả khi nếu Anh có thuận lợi là đã được đảm bảo vì đã từng là thành viên EU, thì cũng có thể bị loại bỏ bất cứ lúc nào và Anh luôn phải đối mặt với sự không chắc chắn khác khi Anh đang nằm trong EU.

Tạm thời duy trì hiện trạng?

Một sự thay thế nhẹ nhàng hơn để tránh việc phải đối xử thương mại theo điều khoản MFN là tạm thời duy trì hiện trạng thương mại EU-UK trong khi chờ đợi một mối quan hệ lâu dài. Mặc dù điều đó đòi hỏi phải tìm một sự cân bằng giữa quyền tiếp cận thị trường chung và quyền di chuyển tự do của lao động.

Các thành viên WTO khác có thể phản đối điều này vì nó vi phạm quy chế MFN, nhưng việc xử lý tranh chấp sẽ phải mất một thời gian đáng kể và nó cũng có thể rằng, trước một sự thay đổi bất ngờ, các thành viên khác của WTO sẽ đồng ý hay tạm thời đồng ý trên thực tế cho phép các cuộc đàm phán EU-UK tiếp tục mà không gây thêm áp lực. Tất nhiên, điều đó đòi hỏi sự thiện chí của tất cả các bên.

Các mối quan hệ hậu Brexit với các nước có thoả thuận ưu đãi thương mại với EU (chủ yếu là các FTA) có thể dễ dàng hơn so với quan hệ với EU27, bởi vì họ có thể thoải mái hơn để thảo luận chính thức về việc có cho phép tiếp tục thực thi các thoả thuận song phương hiện có trong khi chờ đợi một FTA chính thức hoặc thỏa thuận mới tương tự được đàm phán xong. Và quyền lợi cao hơn ở các thị trường này bởi vì nói chung, chính sách MFN của họ ít tự do hơn so với EU. Thương mại với các quốc gia loại này trong năm 2015 chiếm 14% xuất khẩu của Vương quốc Anh và mức thuế MFN trung bình dành cho các nhà xuất khẩu Anh dao động từ dưới 5% (Israel) tới gần 30% (Ai Cập), và có lẽ đáng chú ý nhất, 17% ở Hàn Quốc. Ở mức độ chi tiết hơn, các mức thuế này có thể là cao hơn đáng kể.

Nếu Anh không chấp nhận các điều khoản của thỏa thuận thương mại EU với Hàn Quốc, Anh sẽ mất mát đáng kể

Về thương mại dịch vụ cũng tương tự, nhưng nếu Anh không chấp nhận các điều khoản của thỏa thuận thương mại EU với Hàn Quốc, Anh sẽ mất mát đáng kể.

Không thể so sánh FTA EU – Hàn Quốc với lộ trình GATS vì chúng khác nhau về cấu trúc. Ví dụ, FTA kết hợp các nguyên tắc về việc thành lập các công ty nước ngoài vào điều kiện đầu tư chứ không coi đó là một yếu tố của thương mại dịch vụ. Tuy nhiên, trong nhiều lĩnh vực cụ thể, thỏa thuận EU-Hàn Quốc đã vượt quá xa các cam kết GATS của Hàn Quốc. Ví dụ, trong các dịch vụ tài chính, nó mở ra thị trường Hàn Quốc trong một vài khía cạnh, và đặc biệt dành cho các công ty EU quyền cung cấp dịch vụ tài chính mới tự phát triển. Nó cũng mở ra thị trường viễn thông bằng cách giảm các yêu cầu quyền sở hữu nội địa, cũng như thị trường dịch vụ và dịch vụ vận chuyển hợp pháp. Hơn nữa, FTA EU- Hàn Quốc tương tự như FTA Mỹ - Hàn Quốc, do đó nếu Anh không chấp nhận các FTA này, thì sẽ gặp nhiều bất lợi liên quan đến các đối tác của EU và Mỹ.

Còn có những điều có thể quan trọng hơn các FTA. Thứ nhất, Vương quốc Anh chỉ là thành viên Hiệp định Mua sắm Chính phủ (GPA) của WTO thông qua tư cách thành viên của EU; EU phê chuẩn GPA thay mặt cho các thành viên của nó, nhưng Anh thì không. Theo số liệu của Ủy ban châu Âu, giá trị thị trường mua sắm công hàng năm mở cửa cạnh tranh quốc tế cho 43 thành viên GPA lên tới 1,3 nghìn tỷ USD, và nếu Anh không phê chuẩn hay gia nhập GPA trong thời gian tới, nó sẽ mất quyền lợi tiếp cận với tất cả thị trường mua sắm công của các thành viên GPA một khi rời khỏi EU. Với thị trường rộng lớn và thái độ nói chung là tự do của chính phủ Anh khi mua sắm hàng hóa nước ngoài, một phần quan trọng là chia sẻ lợi ích từ lộ trình EU trong GPA cho các thành viên khác từ việc mua hàng của Chính phủ Anh. Điều này cũng có nghĩa rằng Brexit sẽ làm thay đổi các thỏa thuận quốc gia thứ ba với EU về mua sắm chính phủ. Trong thế giới của thương mại, nếu có thay đổi có nghĩa là phải đàm phán lại. Vì vậy, thỏa thuận GPA mới cho Vương quốc Anh có thể sẽ phải trải qua một cuộc đàm phán ba bên (Anh, EU27 và nước thứ ba) và cần tới 18 cuộc đàm phán GPA. Quả là rất phức tạp và hiển nhiên là cần thiện chí từ tất cả các bên.

Kết luận

Tái lập chính sách thương mại của Anh sẽ rất rất phức tạp và tốn thời gian, và nếu nước Anh bị buộc phải giao dịch thương mại theo khuôn khổ WTO hơn là với những ưu đãi hiện có cho khoảng 3/5 xuất khẩu, hoạt động thương mại của nó sẽ bị ảnh hưởng. Do đó, rất cần sự đơn giản và hợp tác. Tiếp theo đó là cố gắng duy trì sự tín nhiệm từ các đối tác thương mại, đặt thành ưu tiên ngoại giao hàng đầu trong giai đoạn Brexit.

Chúng tôi đề nghị rằng chính phủ Anh nên:

  • Đầu tiên, chấp nhận lộ trình WTO của EU trong đó có hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu;
  • Cố gắng duy trì thỏa thuận thương mại EU-UK hiện hành (ví dụ: thị trường chung hoặc một cái gì đó giống vậy) trong một thời gian, song song với đó là đàm phán một thỏa thuận lâu dài mới;
  • Đối với các nước hiện đang có hiệp định ưu đãi với EU, thúc đẩy ngay các cuộc thảo luận không chính thức nhằm duy trì quyền tiếp cận thị trường mà các FTA này mang lại (như với Hàn Quốc)
  • Không ưu tiên đàm phán các hiệp định mới đi xa hơn việc các cuộc đàm phán duy trì/sửa đổi những cái đang tồn tại;
  • Xem xét kỹ lưỡng các cam kết WTO của EU để đảm bảo rằng các quyền và đặc quyền của WTO mà nước Anh đang được hưởng lợi từ vai trò thành viên của mình thông qua EU được duy trì hậu Brexit.

Nguồn :  http://voxeu.org – VQ

Từ khóa : Đàm phán, chính sách thương mại mới, của Anh.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008752390
Go to top