JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếCuộc chiến thương mại Mỹ-Trung tái định hình nền thương mại toàn cầu

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung tái định hình nền thương mại toàn cầu

12.02-06

Cuc chiến thương mi kéo dài 2 năm gia M và Trung Quc đã làm đo ln nn thương trên toàn thế gii, git lùi đà tăng trưởng thương mi toàn cu – nhưng cuc đu đá gia 2 ông ln cũng đem li mt s li ích đến cho mt vài ngành ngh và quc gia.

Năm 2019, tăng trưởng thương mại toàn cầu đã giảm xuống con số 1% ít ỏi, giảm từ 4% vào năm 2018 và từ 6% vào năm 2017. Đây là con số thấp thứ 4 trong 40 năm qua và là con số thấp nhất từng có sau cuộc suy thoái, theo như dữ liệu từ Qũy tiền tệ quốc tế.

Một vài nguyên nhân đã tác động đến sự suy giảm, nhưng các nhà phân tích cho rằng cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung mới là nguyên nhân chính nhất. Mỹ và Trung là hai bộ máy thu mua lớn nhất trên thế giới, mỗi nước đều tiêu thụ hơn 2 nghìn tỷ USD hàng hóa mỗi năm. Thương mại giữa hai nước này chậm lại do bịảnh hưởng bởi thuế quan và các biện pháp khác, và sự thu mua từ các nước khác không thể bù đắp hết sự mất mát này.

Đằng sau sự suy giảm này chính là sự thụt lùi trong doanh thu các mặt hàng nông sản, máy bay và máy móc mà Mỹ bán cho Trung Quốc, trong khi Trung Quốc lại thất thu đối với các mặt hàng điện tử và vật tư công nghiệp xuất khẩu sang Mỹ. Trong một vài trường hợp, các nhà cung ứng nước ngoài không thể lắp đầy khoảng trống, khiến rất nhiều tiêu chuẩn trong hoạt động và nhu cầu của nhà máy cũng giảm theo.

Sergi Lanau, phó chuyên gia kinh tế trưởng tại Viện Tài chính Quốc tế cho rằng “Tăng trưởng và đầu tư toàn cầu nhiều khả năng sẽ cao hơn nếu như không có sự bất ổn trong nền thương mại” gây ra bởi cuộc chiến Mỹ-Trung.

Nhìn tổng thể, nhập khẩu vào Trung Quốc giảm mạnh 59 tỷ USD trong năm 2019, trong khi nhập khẩu vào Mỹ giảm 49 tỷ USD, dựa theo số liệu xuất nhập khẩu giữa Mỹ và Trung Quốc được thống kê bởi Trade Data Monitor.

Thế nhưng, sự suy giảm có thể đã lớn hơn rất nhiều nếu như dòng chảy thương mại không chuyển hướng sang nhiều quốc gia khác. Trong số 15 quốc gia có sự thay đổi nhiều nhất trong nhập khẩu sang Mỹ vào năm ngoái, nhập khẩu từ 11 nước đã tăng lên trong khi chỉ có 4 nước giảm xuống. Đối với Trung Quốc, nhập khẩu từ 7 nước đã tăng lên trong khi 8 nước giảm xuống.

Dưới đây là cái nhìn tổng quát về những nền dòng chảy kinh tế đã góp phần bù đắp lỗ hỏng trong hệ thống thương mại toàn cầu.

Đông Nam Á

Tổn thất của Trung Quốc chính là cơ hội dành cho Việt Nam, thúc đẩy xu hướng di chuyển các nhà máy từ Trung Quốc sang Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác có mức lao động rẻ hơn trong dài hạn.

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng may mặc từ Việt Nam sang Mỹ đã tăng trưởng trong nhiều năm, và quần áo chiếm đến 1/3 trong 66 tỷ USD hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ trong năm ngoái. Các ngành hàng thương mại khác từ Việt Nam cũng đang tăng trưởng nhanh chóng – nhập khẩu điện thoại di động tăng khoảng 6 tỷ USD, trong khi đối với các mặt hàng nội thất, thiết bị viễn thông và chip máy tính, doanh thu của từng ngành hàng này xuất sang Mỹ tăng 2 tỷ USD.

Các chuyên gia thương mại cảnh báo rằng sự tăng trưởng này có thể bị thổi phồng so với thực tế, bởi vì dữ liệu có thể bao gồm các mặt hàng được chuyển vào Việt Nam từ Trung Quốc để tránh bị Mỹ đánh thuế và “thường không thay đổi gì ngoại trừ nhãn dán trên hộp”, Dane Chamorro, một đối tác tại công ty tư vấn Control Risks cho biết.

Các nước Đông và Đông Nam Á khác ghi nhận mức tăng trưởng thấp hơn trong hoạt động xuất khẩu sang Hoa Kỳ, bao gồm Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, và Philippines.

Nam Mỹ

Hai nền kinh tế lớn nhất của Nam Mỹ - Brazil và Mexico – chỉ nhận được một vài lợi ích nhất định từ tranh chấp Mỹ-Trung.

Nhu cầu mua đậu nành từ nông dân Brazil tăng lên, đặc biệt vào năm 2018 sau khi Trung Quốc tạm dừng thu mua mặt hàng này từ Hoa Kỳ. Trong lúc lĩnh vực nông nghiệp của Mỹ bị vướng vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc, xuất khẩu hạt có dầu từ Brazil sang Trung Quốc đã tăng 8 tỷ USD chỉ trong năm 2018.

Năm ngoái không phải là một năm tăng trưởng mạnh đối với Brazil do bệnh dịch tả lợn châu Phi đã làm suy giảm đàn lợn ở Trung Quốc, cắt giảm nhu cầu sử dụng bột đậu nành làm thức ăn chăn nuôi, và cũng vì thế mà xuất khẩu đậu nành cũng giảm trong khoảng thời gian này. Tuy vậy, xuất khẩu từ Brazil sang Trung Quốc đã tăng 22 tỷ USD vào năm 2018.

Flavio França, nhà phân tích thương mại đậu nành và ngô tại Datagro ở São Paulo cho biết mặc dù Trung Quốc đã bỏ ra một số tiền lớn để mua đậu nành từ Brazil, số tiền này không thể hoàn toàn bù đắp vào sự suy giảm trong doanh số toàn cầu.

“Tuy nhiên, người nông dân ở đây ít ra cũng có thể bán được nhiều hơn và bán hết những mặt hàng tồn trong năm 2018, và nhờ đó họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn,” ông cho biết.

Trong khi đó, xuất khẩu từ Mexico sang Mỹ chứng kiến mức tăng trưởng cao thứ hai trong số tất cả các đối tác thương mại của Mỹ, chỉ sau Việt Nam. Xuất khẩu vẫn tăng trưởng thậm chí trong lúc Mexico gặp phải những vấn đề thương mại của riêng họ với chính quyền Trump, bao gồm đàm phán phiên bản thay thế Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và những lời đe dọa đánh thuế của Mỹ lên tất cả các mặt hàng xuất khẩu từ Mexico nếu như nước này không giới hạn số người Trung Mỹ di cư qua biên giới Hoa Kỳ vào giữa năm 2019.

Châu Âu

Nước Đức, quốc gia xuất khẩu hàng đầu của Châu Âu, bịảnh hưởng bởi nhu cầu đi xuống của Trung Quốc do nền kinh tế của nước này bị chậm lại. Đức cũng phải trả giá cho thuế quan mà Trung Quốc áp đặt lên hàng xuất khẩu từ Mỹ: Xe hơi Mercedes-Benz vào thị trường Trung Quốc từ Mỹ.

Cùng lúc đó, Đức còn bị chính quyền Trump đe dọa đánh thuế lên ô tô nhập khẩu, dù chưa bao giờ thực hiện nhưng Trump cũng chưa bao giờ từ bỏ lời đe dọa này.

Mặc dù chính quyền Trump đã đe dọa áp đặt thuế quan rộng rãi lên châu Âu vì một loạt các lý do, mức thuế quan duy nhất được thực thi là thuế thép và nhôm toàn cầu vào đầu năm 2018 và một vài mức thuế quan khá khiêm tốn khác tác động lên khoảng 7.5 tỷ USD hàng hóa, được Tổ chức Thương mại Thế giới cho phép, liên quan đến vấn đề trợ cấp máy bay của Liên minh châu Âu.

Bất chấp sự sụt giảm mạnh ở Đức, tổng xuất khẩu của EU sang Mỹ tăng 10.3% vào năm 2019. Hà Lan và Pháp mỗi nước tăng hơn 5 tỷ USD doanh số xuất khẩu sang Mỹ, Ireland tăng 4 tỷ USD, Bỉ tăng 3 tỷ USD, và Ý tăng 2 tỷ USD.

Airbus SE lắp đầy khoảng trống còn lại bằng doanh thu máy bay phản lực Boeing 737 Max, góp phần vào tăng trưởng trong xuất khẩu máy bay từ Pháp. Ireland và Bỉ xuất khẩu nhiều dược phẩm hơn, còn Hà Lan thì đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng dầu mỏ và máy móc công nghiệp.

Mặc dù thương mại Mỹ - Châu Âu vẫn duy trì tốt một cách bất ngờ trong nỗ lực giữ nguyên vị trí trung lập trong những cuộc chiến thương mại toàn cầu, đầu tư nước ngoài thì không như vậy. Dựa theo số liệu do Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNCTAD) công bố, đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Châu Âu năm 2019 giảm 15% so với năm 2018.

Nhật Bản

Năm 2019, xuất khẩu của Nhật Bản giảm 5.6%, đánh dấu lần giảm hằng năm đầu tiên trong vòng 3 năm, theo như dữ liệu Bộ Tài chính công bố vào ngày 23/1. Xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 7.6%, trong khi xuất khẩu sang Mỹ giảm 1.4%.

Tuy nhiên, những dấu hiệu gần đây cho thấy giai đoạn tồi tệ nhất đã qua – xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc đã tăng lần đầu tiên trong 10 tháng trở lại đây.

Một vài nhà kinh tế học cho rằng các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đã hưởng lợi từ cuộc tranh chấp Mỹ-Trung, do Trung Quốc đã cắt giảm thuế quan lên ô tô nhập khẩu từ các nước khác ngoại trừ Mỹ.

Trung Quốc đã cắt giảm thuế quan lên ô tô nhập khẩu từ các nước khác ngoại trừ Mỹ và giúp đỡ các tập đoàn như Toyota Motor Corp – tập đoàn xuất khẩu dòng xe hạng sang Lexus – tiến mạnh vào Trung Quốc. Doanh thu của Lexus ở Trung Quốc (tính cả Hong Kong) tăng 25%, 202,000 chiếc được bán vào năm ngoái. Doanh thu tổng thể của Toyota tại Trung Quốc tăng 9%, tương đương 1,62 triệu chiếc xe được bán, mặc cho thị trường đang bất ổn.

Tương lai

Với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đang tạm ngưng, Qũy Tiền tệ Quốc tế dự đoán tốc độ tăng trưởng thương mại toàn cầu sẽ đạt khoảng 3% vào năm 2020, tăng 1% so với năm ngoái.

Dự đoán này dựa trên giả định thỏa thuận ngừng chiến giữa Mỹ và các đối tác thương mại chủ chốt sẽ tiếp tục có hiệu lực, và những thị trường lớn mới nổi như Brazil, Mexico, Ấn Độ, và Nga sẽ tiếp tục phát triển về kinh tế. Củng cố cho dự đoán trên, những dữ liệu về kết quả sản xuất toàn cầu đã cho thấy dấu hiệu ổn định vào đầu năm nay.

Tuy nhiên, những giả định này chủ yếu được đặt ra trước khi đại dịch corona bùng phát tại Trung Quốc, tạo ra một loại bất ổn hoàn toàn mới đối với thương mại toàn cầu năm 2020. Đại dịch có thể sẽ gây ra ít nhất một vài gián đoạn đối với chuỗi cung ứng và thương mại khi các quan chức y tế trên thế giới làm việc với nhau để ngăn chặn lây lan.

Và với việc Mỹ vẫn còn đang đánh thuế lên gần 370 tỷ USD hàng nhập khẩu từ Trung Quốc hàng năm, có lẽ quá sớm để nói rằng môi trường thương mại toàn cầu sẽ được cải thiện.

“Trong khi những nước như Việt Nam có thể xây được thêm một số nhà máy mới, sự suy thoái trong quan hệ thương mại Mỹ-Trung và làn sóng chủ nghĩa bảo hộ ngày càng dữ dội trên toàn cầu sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến mặt bằng chung,” Ben Bland, giám độc dự án Đông Nam Á tại Viện Lowy cho biết.

Nguồn: Wall Street Journal

Từ khóa: Chiến tranh thương mại, chủ nghĩa bảo hộ, khủng hoảng kinh tế, tự do thương mại

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008751175
Go to top