
Bắc Kinh vẫn đang gây sức ép lên Chính phủ Morrison, tuy nhiên, phía Úc lại có lợi thế quan trọng để đối đầu với Trung Quốc.
Kể từ khi đại dịch virus corona bùng phát vào đầu năm nay, mối quan hệ giữa Úc và Trung Quốc cũng dần trở nên căng thẳng, gần như trở thành đối nghịch, dù trước đó cả hai đều có quan hệ hợp tác kinh tế lẫn nhau.
Nhu cầu nguyên liệu của các ngành xuất khẩu tại Úc ngày càng tăng và phụ thuộc phần lớn vào Trung Quốc. Nước này dần trở thành nguồn cung chính cho nhiều ngành tại Úc, từ nông nghiệp cho đến giáo dục, do đó, khi Bắc Kinh ngày càng thắt chặt các hoạt động kinh tế đối với Chính phủ Morrison, nền kinh tế Úc có vẻ lao đao.
Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã liên tục gây sức ép trong cuộc chiến thương mại một chiều với Úc, nhắm vào các mặt hàng xuất khẩu như lúa mạch, thịt hoặc vấn đề bằng đại học, với mục tiêu buộc Chính phủ Úc phải nhượng bộ đối với Bắc Kinh.
Tuy nhiên, dù Bắc Kinh gây khó khăn như thế nào thì Úc vẫn còn một con át chủ bài trong ngành xuất khẩu. Đây là ngành công nghiệp mà Bắc Kinh không thể tác động trừ khi họ muốn bê đá tự đập chân mình: ngành Quặng sắt.
Năm 2018, Úc là quốc gia xuất khẩu quặng sắt đứng đầu thế giới, chiếm 53,7% nguồn cung toàn cầu. Xếp thứ hai là Brazil, sản xuất ít hơn một nửa với 23,9%. Rõ ràng, Úc gần như độc quyền trong việc cung cấp quặng sắt cho Trung Quốc với mức sản lượng đủ để cung cấp cho những ngành công nghiệp đóng vai trò là động cơ tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc.
Trong khi đó, Trung Quốc tiêu thụ 69,1% tổng lượng xuất khẩu quặng sắt toàn cầu, cao hơn gấp đôi so với phần còn lại của toàn thế giới cộng lại.
Trung Quốc đủ khôn ngoan để hiểu rằng Úc là nhà cung cấp duy nhất có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của họ.
Trong bối cảnh đại dịch đang hoành hành, vấn đề nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc lại càng trở nên quan trọng hơn nữa, nhất là khi Bắc Kinh đang phải cố gắng đối phó với tác động kinh tế từ dịch bệnh và các chính sách đóng cửa quốc gia.
Mức độ thiệt hại thực sự đối với nền kinh tế và thị trường lao động Trung Quốc do COVID-19 gây ra và do chính sách đóng cửa quốc gia rất khó xác định. Số liệu thống kê của Trung Quốc thường kém chính xác, các báo cáo chỉ nêu lên những con số mà chính quyền muốn nghe. Tỷ lệ thất nghiệp chính thức của Trung Quốc là 5,9%, tuy nhiên, nhiều nhà phân tích khá nghi ngờ con số này.
Trong một cuộc phỏng vấn với Bloomberg vào tháng 6, nhà kinh tế của Đại học Oxford và cựu cố vấn kinh tế cao cấp của UBS George Magnus đã tuyên bố rằng tỷ lệ thất nghiệp thực sự của Trung Quốc có thể rơi vào khoảng 15-20%.
Một nhóm các nhà phân tích từ công ty Zhongtai Securities có trụ sở tại Sơn Đông cũng đồng quan điểm này. Theo nhóm nghiên cứu, có khả năng số người mất việc do khủng hoảng dịch bệnh lên tới 70 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp là khoảng 20,5%.
Tuy nhiên, sau đó nhóm này đã rút lại báo cáo của mình.
Nhiều năm qua, Trung Quốc định hướng phát triển kinh tế hướng tới người tiêu dùng, thay vì phụ thuộc vào xây dựng cơ sở hạ tầng và đầu tư. Tuy nhiên, dường như lần này Bắc Kinh lại quay trở lại với hướng đi cũ, tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc giải ngân vốn đầu tư công trong các dự án cơ sở hạ tầng - giống như cách nước này đã làm trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (GFC).
Các chương trình kích thích của Trung Quốc có thể có tổng chi phí hàng nghìn tỷ đô la. Ngoài ra, có một số dấu hiệu rõ ràng cho thấy Bắc Kinh dự định sẽ tiết kiệm nguồn ngân sách, sau khi Đảng Cộng sản đồng thuận rằng gói cứu trợ tung ra trong GFC 2008 có phần hơi quá tay.
Trong thời gian gần đây, các ưu tiên chi tiêu ngày càng trở nên rõ ràng hơn sau một loạt các trận lụt gây thiệt hại trên khắp Trung Quốc, bao gồm cả Vũ Hán, tâm chấn ban đầu của đại dịch COVID-19 toàn cầu.
Sau đợt lũ lụt ở các tỉnh An Huy, Hồ Bắc và Giang Tây - khu vực có tổng dân số hơn 150 triệu người - Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung ương Trung Quốc đã phân bổ số tiền cứu trợ 309 triệu nhân dân tệ (A63,6 triệu USD).
Con số này không quá lớn. Do đó, một số chuyên gia Trung Quốc đã đặt ra câu hỏi, tại sao chính quyền trung ương ở Bắc Kinh lại bỏ ngỏ việc cứu trợ thảm họa nặng nề cho các chính quyền địa phương vốn dĩ cũng đang thiếu tiền mặt vì phải vật lộn với gánh nặng phục hồi kinh tế sau tác động của COVID-19.
Nhìn vào biểu đồ nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc, có thể thấy rõ một phần đáng kể ngân sách của Trung Quốc đã chi vào đâu.
Mặc dù nhu cầu quặng sắt toàn cầu giảm đáng kể và các mặt hàng khác như than nhiệt vẫn gặp khó khăn so với trước khi đại dịch xảy ra, nhưng nhu cầu đối với quặng sắt của Trung Quốc vẫn còn rất lớn.
Nếu mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Canberra tiếp tục căng thẳng, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục mở rộng phạm vi và tăng cường tấn công thương mại một phía vào các ngành công nghiệp Úc.
Tuy nhiên, khi Đảng Cộng sản Trung Quốc cố gắng đưa quốc gia trở lại định hướng phát ban đầu thì nhu cầu quặng sắt lại gia tăng và sự phụ thuộc nhập khẩu vào Úc lại tiếp tục, thậm chí có khả năng còn lớn hơn nữa nếu chi tiêu cho cơ sở hạ tầng và xây dựng đi vào tình trạng quá tải.
Mối quan hệ ngoại giao giữa Úc và Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục căng thẳng trong thời gian tới, nhất là khi Canberra đang ở giữa những đợt căng thẳng Mỹ-Trung hiện nay.
Tuy vậy, bất chấp các mối đe dọa liên tục từ phía Bắc Kinh, nhu cầu quặng sắt cực kỳ lớn của nước này là điều không thể chối cãi. Do đó, Trung Quốc sẽ khó hành động quyết liệt mà vẫn không làm tổn hại nghiêm trọng đến triển vọng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Nguồn: News.com.au
Từ khóa: chiến tranh thương mại, Úc, Trung Quốc, ngành công nghiệp quặng sắt, con át chủ bài
Các tin khác
- Căng thẳng Mỹ - Trung: “Vở bi kịch Shakespeare” của thời đại - 06/08/2020
- EVFTA là cơ hội cho các doanh nghiệp châu Âu vào Việt Nam thời Covid-19 - 06/08/2020
- Lý do Mỹ theo sát các cuộc đàm phán thương mại EU-Trung Quốc - 06/08/2020
- Đàm phán hậu Brexit và quan hệ thương mại Anh - EU: Ánh sáng cuối đường hầm? - 06/08/2020
- Bình tĩnh đón nhận chuỗi cung ứng mới - 05/08/2020






















