JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếĐông Nam Á có thêm đòn bẩy mới khi Trung Quốc và Mỹ tranh giành sức ảnh hưởng

Đông Nam Á có thêm đòn bẩy mới khi Trung Quốc và Mỹ tranh giành sức ảnh hưởng

21.06-10

Dòng vốn đổ vào Đông Nam Á khi các đồng minh của Mỹ tìm cách đối trọng với Sáng kiến Vành đai và Con đường.

Có hai “cây cầu hữu nghị” bắc qua sông Tonle Sap ở Thủ đô Phnom Penh, Campuchia. Một là cây cầu hữu nghị Campuchia – Nhật Bản, và một là cây cầu hữu nghị Campuchia – Trung Quốc.

Nằm gần như sát cạnh nhau, hai cây cầu này đã vô tình biểu trưng cho sự kình địch giữa Nhật Bản và Trung Quốc tại Campuchia nói riêng và trên phần lớn khu vực xung quanh sông Mekong nói chung, nơi Nhật Bản và Trung Quốc là hai nhà viện trợ và nhà đầu tư lớn nhất khu vực.

Cây cầu của Nhật Bản - được xây đầu những năm 1960, khi mà Nhật Bản chỉ vừa mới bắt đầu bùng nổ kinh tế hậu chiến tranh – gần đây được mở lại sau gần hai năm cải tạo. Còn cây cầu của Trung Quốc thì mới hơn nhiều, cũng giống như gần 3000 km đường bộ và một loạt cây cầu khác mà Trung Quốc đã xây cho Campuchia trong thập kỷ qua.

Ngoài thủ đô Phnompenh, còn có các công trình vĩ đại ở những nơi khác để tưởng niệm mối quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Nhật Bản với Campuchia. Tại thành phố biển Sihanoukville, Trung Quốc đã xây dựng hàng loạt các sòng bài và các công trình khác để lấp đầy cảnh quan nơi đây, còn Nhật Bản thì xây dựng tại đây cảng nước sâu duy nhất của Campuchia –nằm trong kế hoạch nâng cấp hạ tầng cho Campuchia của Nhật Bản trị giá hàng tỷ đô la và kéo dài hai thập kỷ. Sihanoukville còn có hai khu công nghiệp lớn: một do Trung Quốc tài trợ, và một do Nhật Bản.

Có lẽ dự án gây tranh cãi nhất là dự án đang được xây dựng gần Tỉnh Koh Kong – một cảng biển nước sâu nữa và một sân bay quốc tế lớn bất thường do Công ty xây dựng của Trung Quốc là Tập đoàn Phát triển Liên minh (UDG) xây dựng. Một số người, trong đó có Phó thủ tướng Mỹ Mike Pence, đã cho rằng, các dự án trên là nhằm che đậy cho kế hoạch xây dựng một căn cứ hải quân. Chính phủ Hun Sen đã nổi giận trước tin đồn trên và khẳng định đó chỉ là “tin giả”. Một quan chức Nhật Bản cũng phủ nhận quan điểm cho rằng Nhật Bản đang cạnh tranh trực diện với Trung Quốc về sức ảnh hưởng tại Campuchia, nhấn mạnh rằng các khoản đầu tư của Nhật Bản xuất phát từ lý do phát triển và an ninh. “Chúng tôi không muốn cạnh tranh, vì Trung Quốc quá lớn”, vị quan chức này phát biểu.

Tuy nhiên, sự kình địch là không thể chối cãi từ thực tế thừa thãi các dự án cạnh tranh nhau giữa hai nước trên ở Campuchia, một quốc gia đang phát triển và đang đón nhận một làn sóng đầu tư ồ ạt, giữa lúc cuộc đua tranh giành sức ảnh hưởng trên khắp khu vực Đông Nam Á đang bước vào giai đoạn gay cấn.

Campuchia và các quốc gia khác trên khắp Đông nam Á đang nổi lên như vũ đài chính cho một dạng tranh giành quyền lực mới giữa Trung Quốc và các đối thủ của mình. Sự nổi lên của Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc vào năm 2013 đã kích động Mỹ và các nước đồng minh – gồm Nhật Bản, Ấn Độ và Australia – và thôi thúc các nước này xây dựng các chương trình hạ tầng và an ninh cho riêng mình.

Còn đối với các nước tiếp nhận các sáng kiến trên của Trung Quốc và Phương Tây, đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức. Trong khi một số nước có thể cảm thấy áp lực khi phải lựa chọn giữa các mạnh thường quân, thì các nước khác lại cảm thấy vị thế của họ đã thay đổi từ thế yếu sang thế mạnh – ít nhất là để khai thác lợi ích từ sự cạnh tranh khi Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ đều đang cố gắng chuyển đổi thành những nhà tài trợ ôn hòa hơn, lịch thiệp hơn.

Siswo Pramono, người đứng đầu trung tâm Phân tích và Phát triển Chính sách của Bộ ngoại giao Indonesia, cho biết tăng trưởng kinh tế nhanh chóng bên trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đã đem lại cho 10 nước thành viên của khối này đòn bẩy chưa từng có.

“Chúng tôi không phải “chọn” giữa [Mỹ và Trung Quốc], bởi vì chúng tôi có miếng bánh”, ông nói. “Miếng bánh ở đây là vị thế chiến lược cũng như thị trường đăng tăng trưởng nhanh chóng. ASEAN đã tự tin hơn so với trước đây bởi những gì mà chúng tôi có được: Khu vực kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới là Đông Á. Ở đây có thị trường, có người dân. Chúng tôi không phải quan tâm Mỹ và Trung Quốc nói gì – đó là chuyện của họ”.

Theo số liệu từ Ủy ban Quản lý Giám sát Tài sản Nhà nước Trung Quốc, kể từ khi được khởi động năm 2013, Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc đã khởi công tổng cộng khoảng 1,800 dự án lớn – từ xây dựng cầu, đường, sân bay cho đến xây dựng đập, khu công nghiệp và trung tâm hội nghị -- ở 80 quốc gia trên khắp thế giới, trong tổng số 3,120 dự án đến 30/4/2019, 60% trong số đó đã và đang được tiến hành.

Tiến độ triển khai nhanh chóng của BRI đã thôi thúc Mỹ, với sự giúp sức của Nhật Bản, sửa lại chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và mở” (FOIP) năm 2016, hướng đến các khía cạnh đầu tư và phát triển hạ tầng.

Được đề xuất bởi Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe trong năm 2006 và một lần nữa trong năm 2012 như một tứ giác hợp tác khu vực vì an ninh hàng hải trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, mãi cho đến khi Donald Trump lên làm Tổng thống Mỹ, chiến lược FOIP mới được hồi sinh. Là một chương trình lỏng lẻo ban đầu tập trung vào an ninh, thương mại và xúc tiến luật lệ, phạm vi của FOIP là khu vực được bảo vệ bởi hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ (giờ đã đổi tên thành IndoPacom), đặc biệt là những nước xung quanh các vùng biển trọng yếu.

Nhưng một loạt các dự án viện trợ và hạ tầng, trong đó có 60 tỷ USD tài trợ cho Mỹ cho Hợp tác Tài trợ Hạ Tầng được Quốc Hội ủy quyền cuối năm 2018, và chương trình “hạ tầng chất lượng” của Nhật trong cùng năm, có thể giúp thay đổi cục diện. Việc biến đổi hình thái của FOIP – bao gồm sự tham gia của Ấn Độ và Australia cùng với Nhật và Mỹ hình thành tứ giác dưới tên gọi bao quát “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” – ngụ ý rằng hàng chục tỷ USD viện trợ có thể sẽ đổ vào 37 nước trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Pramono, cơ quan được giao nhiệm vụ phát triển khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” của Indonesia, đã nhận thấy cơ hội trong sáng kiến này. “Hãy nhìn vào nền kinh tế ASEAN, nó đã tăng trưởng kể từ năm 1985 lên mức 2.8 nghìn USD như hiện nay, và riêng Indonesia đã là 1.2 nghìn tỷ USD,” ông nói. “FOIP không liên quan đến quyền lực cứng, đó là quyền lực mềm”.

Tuy nhiên, đối với Ấn Độ, sáng kiến này liên quan đến quyền lực cứng. Lo sợ sự xâm lược của Trung Quốc trong khu vực mà Ấn Độ xem là sân sau của mình, Ấn Độ đã ủng hộ khái niệm FOIP để đẩy mạnh hợp tác chính trị và kinh tế với Mỹ và Đông Nam Á.

Sau chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử hồi tháng 5, thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã thề sẽ đẩy nhanh chính sách “Hành động phía Đông” của mình, và trong một bài phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại An ninh Shangri-La tại Singapore vào năm ngoái, ông Modi đã mô tả tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của mình như “một khu vực tự do, mở và bao trùm”, trong đó Đông Nam Á là trung tâm. Tiếp theo, Ấn Độ đã tăng cường hợp tác kinh tế và chính trị với Đông Nam Á, bao gồm tập trận hải quân với Indonesia, Australia và Việt Nam, cũng như tập trận song phương với Singapore. Trong tháng 5, Ấn Độ lần đầu tiên tham gia tập trận bốn bên với Mỹ, Nhật và Philippines ở biển Đông.

Các quan chức Indonesia và Ấn Độ cho biết, Ấn Độ hiện đang thăm dò khả năng xây dựng một cảng nước sâu tại Sabang Aced, gần đảo Andaman và Nicobar, đối diện Vịnh Malacca, và cho biết Trung Quốc cũng đã bày tỏ sự quan tâm đối với dự án. Trong cuộc gặp tại Jakarta vào năm ngoái, Modi đã đồng ý với Tổng thống Indonesia Joko Widodo sẽ phát triển một quan hệ đối tác hàng hải song phương mới để kết nối hai vùng biển.

Cơ quan Pramono của Indonesia cho biết “Phát triển cảng Sabang là một phần trong tầm nhìn chiến lược của Indonesia để trở thành một cường quốc kinh tế của khu vực và toàn cầu. Sabang vừa là một điểm chiến lược trong kết nối quốc gia, vừa là một điểm chiến lược trong kết nối vùng biển Indonesia với Biển Ấn Độ Dương”.

Pankaj Jha, giáo sư về quốc phòng và các vấn đề chiến lược tại Đại học O.P. Jindal Global của Ấn Độ, đã nhận định các bước đi gần đây cho thấy các cam kết ngày một tăng mà Ấn Độ dành cho Đông Nam Á.

Ông Jha nói “Ấn Độ cần cho thấy mình là một bên liên quan quan trọng trong chương trình của ASEAN”.

Rủi ro nợ

Dù muốn dù không, chương trình BRI rộng lớn của Trung Quốc là chất xúc tác làm thay đổi cuộc cạnh tranh thống trị trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và xa hơn.

Không thể so sánh trực tiếp BRI và FOIP, và giá trị của hai chương trình này cũng thay đổi thất thường. Ước lượng chung nhất về BRI ám chỉ các dự án đang triển khai hoặc đã hoàn thành có giá trị khoảng 1000 tỷ USD, mặc dù theo Jonathan Hillman, người theo dõi chi tiêu hạ tầng tại viện nghiên cứu Mỹ CSIS, dữ liệu sẵn có tốt nhất cho thấy với xu hướng hiện nay, con số này sẽ không thể thể đạt được trong vài năm.

“Vẽ bản đồ của BRI vừa là một công trình khoa học lẫn nghệ thuật. Sáng kiến này là một mục tiêu di động, được định nghĩa lỏng lẻo và không ngừng mở rộng … không bị giới hạn về mặt địa lý hay thậm chí là tầm quan trọng”, ông nói, trích dẫn một nghiên cứu học thuật khác của Mỹ đưa ra con số 340 tỷ USD đã chi trong năm 2014-2017.

Sáng kiến BRI – được một quan chức Mỹ gọi là “một số lượng đáng ngờ các dự án đáng ngờ” – ban đầu là một chương trình tham vọng nhằm kết nối châu Á với châu Phi và châu Âu thông qua mạng lưới đường bộ và đường biển dọc theo 6 hành lang. Mục tiêu của sáng kiến này – như Chủ tịch Tập Cận Bình mô tả - là để đẩy mạnh hội nhập khu vực, tăng cường thương mại và kích thích tăng trưởng kinh tế.

David Hale, Thứ trưởng ngoại giao Mỹ về các vấn đề chính trị khi giải thích về nhiệm vụ của FOIP đã nhắc đến những chỉ trích thường thấy dành cho BRI, bao gồm cả vấn đề nợ không kiểm soát ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư: “Chúng tôi muốn ủng hộ các ý tưởng và các dự án thực tế mà có thể giải quyết được nhu cầu của người dân trong khu vực … và chúng tôi sẽ triển khai các ý tưởng và dự án đó theo cách nào đó để các nước sẽ không bị kẹt trong bẫy nợ và các gánh nặng khác không may phát sinh, giống như trong một số dự án của Trung Quốc”

Quốc hội Mỹ đã thông qua hai dự luật quan trọng nhằm chĩa mũi nhọn vào dạng hợp tác mới này của Mỹ với châu Á, bao gồm Đạo luật BUILD trị giá 60 tỷ USD mà các nhà phân tích của CSIS gọi là “phần quan trọng nhất trong hoạt động lập pháp theo kiểu quyền lực mềm của Mỹ trong hơn 1 thập kỷ qua”.

Không một nước đơn lẻ nào có thể sánh ngang với Trung Quốc về nguồn lực dữ dội và cách ra quyết định nhanh chóng, từ trên xuống. Nhưng trong thời đại khi mà một số nước liên kết lại với nhau (còn gọi là xu hướng minilateralism), Mỹ, Nhật, và các nước ASEAN đã tạo ra liên minh mới để khuyến khích các nước hợp sức trong các dự án cụ thể và khuyến khích đầu tư từ khu vực tư nhân có sự hỗ trợ của chính phủ thông qua bảo lãnh, dịch vụ tư vấn và các cơ chế ưu đãi khác.

Peter Haymond, tham tán tại Đại sứ quán Mỹ ở Thái Lan, chỉ ra 5 quan hệ liên minh và “nhiều quan hệ đối tác an ninh” của Mỹ là nền tảng của chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương của Mỹ. Trên chiến tuyến về kinh tế, “sự hợp tác của chúng tôi với các đối tác và đồng minh là xây dựng một khu vực với chính sách thương mại và đầu tư càng mở cửa càng tốt. Chúng tôi là nhà đầu tư lớn nhất cho khu vực này từ trước đến nay”.

Trung Quốc đã đối mặt với một “phong trào chống BRI” trên khắp thế giới liên quan đến các dự an gây tranh cãi, như ở Maldives, Pakistan và Sri Lanka, nơi vấn đề nợ nần đã buộc nước này phải trao cho Trung Quốc Cảng Hambantota do Trung Quốc xây dựng bằng một hợp đồng cho thuê 99 năm. Mỹ càng đẩy câu chuyện đi xa khi mô tả những nước trên là nạn nhân của “chính sách ngoại giao bẫy nợ” của Trung Quốc.

Trong Hội nghị thượng đỉnh BRI lần hai tại Bắc Kinh hồi tháng 4/2019, Chủ tịch Tập thừa nhận có biết về các than phiền trên. “Mọi thứ nên được tiến hành một cách minh bạch, và chúng tôi không chấp nhận tham nhũng”, ông Tập cho biết, nói thêm rằng chính phủ Trung Quốc sẽ ban hành một “khuôn khổ bền vững về nợ” trong các hợp đồng về hạ tầng.

Bất chấp dư luận không tốt, gần 130 quốc gia đã tham gia sáng kiến trên của Trung Quốc. Thụy Sĩ gần đây đã đồng ý tham gia, ngoài ra còn có các nước thành viên EU như Ý và Luxembourg – hai nước này đã ký biên bản ghi nhớ về việc đồng ý hợp tác với BRI, bất chấp sự phản đối từ các nước chủ chốt trong EU.

‘BRI backdoor’

Năm ngoái, Nhật Bản – một thành viên trong bộ tứ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương - đã gây kinh ngạc cho giới quan sát khi ký một hiệp định với Bắc Kinh về việc cùng tài trợ và thực hiện một vài dự án phát triển hạ tầng.

Nhiều chuyên gia khu vực nhìn nhận, bước đi trên của ông Abe là dấu hiệu cho thấy Nhật Bản – một đồng minh thân cận với Mỹ - muốn vạch ra một phiên bản FOIP cho riêng mình, tách khỏi các ràng buộc cứng nhắc của Mỹ liên quan đến nhân quyền và cấm tài trợ cho các dự án có liên quan đến Trung Quốc. Ngoài ra, như một số nhà phân tích Nhật Bản nhận định, Tokyo đang dè chừng chính quyền Trump và muốn gia tăng phòng bị cho mình.

Thử nghiệm về mối quan hệ Nhật Bản-Trung Quốc đang được tiến hành tại Thái Lan. Chính quyền Thái Lan đang xúc tiến hai dự án lớn trong khuôn khổ hiệp định hợp tác Nhật-Trung về đầu tư hạ tầng tại nước thứ ba. Một là dự án “đô thị thông minh” để chuyển đổi một khu công nghiệp gần Bangkok; và dự án còn lại là tuyến đường sắt cao tốc nối 3 sân bay quốc tế trong và xung quanh thủ đô.

Cả hai dự án đều mới chỉ trong giai đoạn lập kế hoạch và bị bủa vây bởi các tin đồn, đặc biệt là tin đồn liên quan bất hòa giữa ba nước trong nội dung chi tiết cũng như chi phí dự án. Những người chỉ trích cho rằng, các dự án trên phản ánh sự khác nhau cơ bản trong cách tiếp cận của Nhật Bản và Trung Quốc trong việc xây dựng và tài trợ các dự án lớn. Nhưng giới chức Thái Lan và Nhật Bản nhấn mạnh về tính biểu tượng to lớn của quan hệ hợp tác này, tin tưởng rằng các khác biệt sẽ được giải quyết.

“Nhật Bản biết mình không đủ sức tự mình hoàn thành nhiều dự án … và Trung Quốc thì muốn có thêm các bên thứ ba tham gia vào các dự án của BRI, cũng như mong muốn cải thiện quan hệ với Nhật Bản”, Peng cho biết. Ông nói thêm, sự hợp tác này là một “giải tỏa lớn” cho giới lãnh đạo của nước tiếp nhận đầu tư, vì các nước này sẽ hưởng lợi từ cả Nhật và Trung Quốc mà không phải lựa chọn một trong hai.

Làn sóng phản đối BRI trên toàn cầu và cuộc chiến do Mỹ cầm đầu chống lại các tập toàn công nghệ của Trung Quốc, như Huawei, đã khiến Bắc Kinh phải áp dụng một cách tiếp cận “BRI backdoor” (tiến hành ngấm ngầm, bí mật), ông Thitinan Pongsudhirak, giáo sư chính trị học tại Đại học Chulalongkorn, Bankok cho biết.

“Cách hành động một mình của Trump đã khiến Nhật Bản bất an”, vì vậy, ông Abe đã tuyên bố sẽ tăng cường hợp tác với Trung Quốc. “Chúng ta có thể gọi đây là một loại chiến lược BRI bí mật, tức không còn song phương và trực tiếp, mà thông qua các đường dẫn”.

Theo ông Thitinan, BRI “còn nguyên vẹn và vẫn đang diễn ra”, bất chấp các chỉ trích gần đây.

“Nước Mỹ dưới thời Donald Trump đang gặp rủi ro bởi một cuộc chiến thương mại và công nghệ. Cuộc chiến này sẽ không thể cản trở tham vọng toàn cầu của Trung Quốc mà còn có thể phá hủy nước Mỹ”, ông Thititan nhận định. “Thế khó xử của Nhật Bản sẽ là phải cân bằng giữa quan hệ an ninh với Mỹ nhưng vẫn phải ở trong BRI để có vị thế tốt hơn”.

Nguồn: Nikkei Asia

Từ khóa: ASEAN, cơ sở hạ tầng, vành đai và con đường, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008757941
Go to top