
Tổng thống Donald Trump hay khoe khoang rằng ông đang đem ngành sản xuất trở lại nước Mỹ. Dĩ nhiên, khi nền thương mại toàn cầu chậm lại, mạng lưới cung ứng rộng mở toàn cầu - từng là biểu tượng của một nền kinh tế toàn cầu hóa hiện đại - cũng có vẻ như đang bị thu hẹp.
Tuy nhiên, đừng vì thế mà vội phán xét ý tưởng sản xuất “xuyên biên giới” của những năm 1990 là sự “ăn may”. Kể cả khi độ lan tỏa của nó đã hạn chế hơn trước, các chuỗi cung ứng “xa xôi - rộng khắp” gần như chắc chắn vẫn là một phần không thể biến mất trong lĩnh vực sản xuất toàn cầu. Đơn giản là vì có quá nhiều động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp tiếp tục sản xuất và thu mua tại khắp nơi trên thế giới – từ nguồn nhân lực dồi dào giá rẻ, đến năng lực công nghệ và xu hướng tiêu dùng đang thay đổi.
Vào những năm 1990 và 2000, hoạt động sản xuất đã chuyển dịch từ Mỹ ra nước ngoài, thường là đến những nơi lao động rẻ như Trung Quốc hay Mexico (được gọi bằng thuật ngữ “offshored”). Hiện tại, một vài lĩnh vực có thể sẽ quay lại nước Mỹ. Tổ chức Reshoring Initiative, gồm những người ủng hộ việc đưa hoạt động sản xuất trở về chính quốc, cho biết 1,389 công ty đang quay về Mỹ hoặc chuyển vốn đầu tư nước ngoài vào các hoạt động sản xuất mới tại Mỹ trong năm 2018, tăng lên 38% so với năm ngoái. Chính sách thuế quan của Trump không phải là nhân tố thúc đẩy duy nhất. Tập đoàn tư vấn Boston chỉ ra rằng sự khác biệt trong giá thành sản xuất và độ cạnh tranh giữa các quốc gia cũng dần thu hẹp, cho phép các nhà sản xuất linh hoạt xây dựng nhà máy tại những điểm gần hơn với thị trường trong nước.
Đây có thể là tin vui cho những tầng lớp lao động và các nhà hoạch định chính sách đang không hài lòng về tình trạng mất việc làm vào tay người nước ngoài. Mặc dù vậy, đến thời điểm hiện tại thì ảnh hưởng của sự dịch chuyển sản xuất đối với nền thương mại và chuỗi cung ứng là không đáng kể. Chỉ số Reshoring mới nhất được công ty tư vấn A.T. Kearney thông báo vào đầu tháng này cho thấy các mặt hàng nhập khẩu từ 14 đất nước có chi phí sản xuất thấp ở châu Á vào Mỹ tăng trưởng nhanh hơn các mặt hàng sản xuất tại đất nước này vào năm 2018. Điều này chỉ ra rằng các công ty Mỹ vẫn chưa hoàn toàn đóng cửa chuỗi cung ứng toàn cầu.
Và cũng không có dấu hiệu cho thấy họ sẽ làm như vậy. Một cuộc khảo sát được công bố vào tháng 5 bởi hai chi nhánh của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Trung Quốc cho thấy chỉ dưới 6% các công ty lựa chọn Hoa Kỳ như là địa điểm sản xuất mới thay thế Trung Quốc. Trong khi đó, gần 20% lựa chọn chuyển đến Đông Nam Á.
Một phần nguyên nhân vẫn là chi phí lao động. Ở một số ngành nghề nhất định – chẳng hạn như may mặc – ngay cả các nhà máy hiện đại nhất vẫn đòi hỏi rất nhiều bàn tay con người. Theo như một bản khảo sát mới đây của Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản, tiền lương trung bình hàng tháng của một công nhân nhà máy ở Ấn Độ là 265 USD, ở Việt Nam là 227 USD và ở Bangladesh là khoảng 109 USD – rất thấp so với mức lương ở Mỹ. Đây là lý do khiến rất ít công ty sản xuất hàng may mặc quay lại Hoa Kỳ. Mặc dù sản lượng quần áo sản xuất ở Mỹ đã tăng lên 67% từ năm 2009 đến 2017, nó chỉ chiếm 3% thị phần trên thị trường Mỹ, theo như Hiệp hội May mặc và Gìay dép Hoa Kỳ cho biết.
Trên hết, rõ ràng là các nhà sản xuất muốn quay lại Mỹ cũng không thể tìm được nguồn lao động mà họ cần tại nước này. Các nhà máy Mỹ đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng. Số liệu mới nhất từ Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ cho thấy lĩnh vực sản xuất có đến hơn 500,000 vị trí tuyển dụng chưa được lấp đầy. Sự thiếu hụt nhân lực khả dụng đã làm hỏng kế hoạch xây dựng một nhà máy lắp ráp tại Wisconsin của tập đoàn Foxconn Đài Loan, dù kế hoạch này được Trump ủng hộ. Vấn đề có vẻ sẽ chỉ trở nên tồi tệ hơn. Một nghiên cứu của công ty Deloitte và Viện Sản xuất Mỹ ước tính rằng đến năm 2028, lĩnh vực sản xuất ở Hoa Kỳ có thể sẽ thiếu hụt đến 2.4 triệu công nhân.
Ngoài ra, một số nhà cung ứng đang sở hữu những công nghệ và kỹ thuật khó mà tìm được ở nơi khác. Chẳng hạn như trong lĩnh vực kinh doanh đồ dùng ăn uống – dĩa, cốc, v.v – các nhà sản xuất Trung Quốc dường như không có đối thủ trong khả năng sản xuất số lượng lớn đồ dùng cần thiết để lắp đầy các ngăn kệ tại Wal-Mart và Target với giá thành và chất lượng hợp lí. Các nhà sản xuất công nghệ cao như Largan Precision của Đài Loan – công ty sản xuất len máy ảnh, hay Murata Manufacturing của Nhật Bản – chuyên gia về mạch gập, đã quá chuyên nghiệp trong công việc của họ đến mức rất khó để thay thế.
Sau cùng, các công ty Mỹ sẽ phải tiếp tục sản xuất tại những nước khác để phục vụ cho thị trường nội địa nước đó. Ông Trump từng lên án General Motors vì mở thêm nhà máy tại Trung Quốc nhưng lại đóng cửa ở Hoa Kỳ, nhưng dường như không biết rằng những nhà máy đó chủ yếu sản xuất xe hơi cho Trung Quốc chứ không phải Hoa Kỳ. Khi các hộ gia đình ở những nước đang phát triển ngày càng giàu, chắc chắn sẽ có càng nhiều doanh nghiệp Mỹ xây dựng nhà máy tại Trung Quốc và Ấn Độ để bán cho họ. Homi Kharas đến từ Việt Brookings cho biết Trung Quốc sẽ chiếm 22% lượng tiêu thụ toàn cầu của tầng lớp trung lưu (tính theo giá sức mua tương đương) vào năm 2030, Ấn Độ chiếm 17% và Hoa Kỳ chỉ chiếm 7%.
Vì vậy, các công ty Hoa Kỳ chắc chắn sẽ tiếp tục vân chuyển xe hơi và linh kiện điện thoại iPhone từ Đức sang Trung Quốc rồi sang Mexico. Việc cố gắng ngăn cản họ bằng thuế quan, hay những dòng tweet đe dọa và các hình thức gây áp lực khác đơn giản chỉ làm giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Chuỗi cung ứng toàn cầu là điều không thể tránh khỏi trong nền kinh tế hiện tại. Các chính trị gia Hoa Kỳ càng sớm nhận ra điều này thì các doanh nghiệp Hoa Kỳ càng trở nên giàu mạnh hơn.
Nguồn: Bloomberg
Từ hóa: Toàn cầu hóa, chiến tranh thương mại, dịch chuyển chuỗi cung ứng
Các tin khác
- Trung Quốc đang đóng thuế, nhưng các công ty Mỹ mới là bên trả giá - 29/07/2019
- Khắc phục "thẻ vàng" IUU: Tận dụng cơ hội để tiếp cận Hiệp định EVFTA - 29/07/2019
- 'FTA mở ra điều kiện để hàng hóa Việt Nam đi vào thị trường cao cấp' - 26/07/2019
- Chặn dòng FDI nhỏ lẻ - 26/07/2019
- Củng cố nội lực để tận dụng ưu đãi từ FTA - 26/07/2019






















