JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếTại sao thời đại thương mại tự do đang tiến dần đến điểm kết thúc

Tại sao thời đại thương mại tự do đang tiến dần đến điểm kết thúc

TrungQuocMy20032018

Trong vòng 2 năm vừa qua, Hoa Kỳ và những nền kinh tế lớn khác đã tham gia vào một loạt cuộc chiến thương mại không hồi kết; bên cạnh đó, với việc các chính trị gia có quan điểm dân túy lên nắm quyền tại nhiều quốc gia, những tranh chấp nội bộ tại từng nước đang che mờ các cuộc thảo luận về lợi ích do toàn cầu hóa mang lại.

Khi thế giới đang háo hức chờ đợi cuộc gặp giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Hội nghị G20 tổ chức tại Osaka, Nhật Bản với hy vọng lãnh đạo của hai cường quốc có thể giải quyết các bất đồng, tương lai của một thỏa thuận Mỹ - Trung vẫn còn khá xa với. Có thể nói, tranh cãi giữa Hoa Kỳ và nền kinh số 2 thế giới vô cùng phức tạp và với nhiều nút thắt. Điều duy nhất có thể mong chờ từ cuộc gặp chính là tuyên bố thiện chí về cam kết sẽ nối lại đàm phán từ Tổng thống Trump và chủ tịch Tập. Cùng thời điểm, các doanh nghiệp Trung Quốc đang thúc đẩy một cách mạnh mẽ kế hoạch bành trướng toàn cầu thông qua việc xây dựng các mối quan hệ thương mại đa dạng trên khắp hành tinh.

Cuộc chiến thuế quan được ông chủ Nhà Trắng khơi mào với Trung Quốc, Mexico, Canada, và châu Âu được coi là bước đầu nhằm điểu chỉnh lại hoạt động thương mại bất cân xứng giữa Hoa Kỳ với phần còn lại của thế giới. Giờ đây tranh cãi giao thương đang leo thang thành một cuộc chiến toàn diện, khó có thể chấm dứt. Nếu điều này xảy ra, thuế quan và đàm phán song phương có thể trở thành một quy tắc chung, thay thế những nỗ lực toàn cầu nhằm xóa bỏ hàng rào thuế thông qua những hiệp định đa phương, đồng thời đặt dấu chấm hết cho thời đại thương mại tự do sau Chiến tranh thế giới thứ II.

Đây không phải là đầu tiên xứ cờ hoa tham gia vào các cuộc chiến thương mại. Sau khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1929, thuế trở thành cái cớ để các chính trị gia đổ lỗi cho tình trạng mất việc làm đang diễn ra trên đất Mỹ. Tâm lý đã nêu dẫn đến việc chính quyền Hoa Kỳ ban hành Đạo luật Thuế Smoot-Hawley năm 1930, tăng thuế đánh lên 20000 mặt hàng nhập khẩu, qua đó kích hoạt biện pháp trả đũa từ những đối tác thương mại chính của mình. Luật thuế mới hy vọng sẽ giúp kéo tỷ lệ thất nghiệp xuống 8%; nhưng hệ quả mang đến lại theo chiều ngược lại, phần trăm số người không có việc làm nhảy vọt từ 16% năm 1931 lên 25% năm 1933.

Sau thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ đã áp dụng cách thức tiếp cận khác, hợp tác với các nước châu Âu nhằm mở cửa giao thương và loại bỏ thuế quan. Ngày 30/10/1947, 30 quốc gia đã ký kết Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT). Trong cùng giai đoạn này, Quốc hội Mỹ thông qua Kế hoạch Marshall, đầu tư 12 tỷ đô la (tương đương 100 tỷ đô la năm 2018) để tái thiết các nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá tại Tây Âu, gián tiếp thúc đẩy nước Đức phát triển trở thành một cường quốc kinh tế thế giới. Động thái tương tự của Mỹ tại châu Á cũng giúp nền công nghiệp Nhật Bản bùng nổ.

Năm 1950, một người Pháp có tên Jean Monnet mơ đến viễn cảnh hợp tác thương mại sẽ thay thế hàng thập niên chiến tranh giữa Pháp và Đức, đồng thời củng cố vị thế của châu Âu trên trường quốc tế. Sau đó 8 năm, các nhà lãnh đạo một số quốc gia thuộc lục địa già đã cùng dự hội nghị thống nhất thành lập Công đồng kinh tế châu Âu, tiền thân của tổ chức Cộng đồng châu Âu năm 1967 và Liên minh châu Âu năm 1993. Cũng vào năm 1993, ba nước Mỹ, Mexico và Caada thành lập NAFTA nhằm cạnh tranh với các nước châu Á và châu Âu. Một năm sau đó, 123 nước thống nhất hình thành Tổ chức thương mại thế giới, nhằm kế thừa các thành tựu do GATT mang lại.

Các thỏa thuận thương mại đã góp phần tạo nên một thời đại toàn cầu hóa và tự do thương mại, thúc đẩy một giai đoạn bùng nổ dài lâu về kinh tế khắp thế giới, sự nổi lên của tầng lớp trung lưu châu Á cũng như giúp hàng tỷ người thoát khỏi đói nghèo.

Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra năm 2008 và suy thoái trầm trọng kéo theo đã nhấn chìm kinh tế toàn cầu. Mặc dù chính phủ các nước đã nỗ lực để hỗ trợ hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, suy thoái đã khiến tỷ lệ thất nghiệp leo thang lên mức hai con số.

Kết quả là, những người lao động đã cống hiến cả cuộc đời cho một công ty bỗng một ngày phát hiện ra mình thất nghiệp và không có bất kỳ nền tảng tài chính hỗ trợ nào cho tương lai phía trước. Nhiều nhà máy tại xứ cờ hoa đóng cửa do không thể cạnh tranh với các đối thủ tại châu Á và Mexico, khiến hàng triệu lao động mất việc làm. Tệ hại hơn, những lao động này nhận ra rằng mình không còn phù hợp với những công việc mới do sự phát triển của tự động hóa và công nghệ khiến những kiến thức, kỹ năng họ đã học được trước đây trở nên lỗi thời. Không thể kiếm được một công việc phù hợp, hàng loạt công nhân buộc phải rời khỏi thị trường lao động. Thêm vào đó, chính quyền Mỹ và doanh nghiệp nước này cũng đã không thành công khi triển khai những chương trình tái đào tạo nhằm giúp các lao động mất việc có thể đi làm trở lại.

Mặc dù kinh tế thế giới đã hồi phục từ năm 2010, vẫn còn một số lượng lớn người lao động thất nghiệp đang phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày. Những cá nhân có việc làm thì lại phải đối mặt với tình trạng thu nhập thực tế suy giảm do chỉ số ít người giàu thụ hưởng phần lớn lợi ích từ sự tăng trưởng trở lại của nền kinh tế. Nhiều lao động giận dữ cáo buộc người nhập cư và toàn cầu hóa chính là nguyên nhân khiến cuộc sống của hộ trở nên tồi tệ, đồng thời quay sang ủng hộ các phong trào dân túy tại Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ba Lan, Ý, Áo, Venezuela và Brazil.

Ngoài ra, những thể chế lớn của thế giới được thành lập sau chiến tranh thế giới thứ II đang ngày càng kém hiệu quả và cần cải tổ để phủ phù hợp với sự thay đổi của thế giới hiện tại. Nếu không có những nhà lạo đạo toàn cầu với sự ủng hộ chính trị mạnh mẽ để thúc đẩy cải cách, những tổ chức đã nêu có sẽ mất dần tầm ảnh hưởng và vai trò của mình trong đời sống.

Nhiều lãnh đạo các doanh nghiệp lớn cũng đang nỗ lực mạnh mẽ để chấm dứt chiến tranh thương mại. Tuần trước 661 công ty đã viết thư cho Tổng thống Trump đề nghị ông chủ Nhà Trắng giải quyết bất đồng với các đối tác của Mỹ trên cơ sở lãnh đạo của những doanh nghiệp vừa nêu đã và đang ngày càng thể hiện sự cam kết mạnh mẽ với các chiến lược toàn cầu hóa. Những người đứng đầu doanh nghiệp này cảm thấy bực bội trước việc Tổng thống Trump đe dọa tăng thuế suất đến 25% áp lên 300 tỷ đô la giá trị hàng hóa Trung Quốc nhập khẩu, gián tiếp làm tăng giá sản phẩm và gây suy giảm nhu cầu tiêu dùng của người Mỹ.

Nếu Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập không thể hóa giải được các bất đồng, những đe dọa về thương mại và thuế quan sẽ tiếp diễn không hồi kết. Không có đội ngũ chính trị gia với tầm nhìn rộng mở cũng như những thiết chế toàn cầu hiệu quả nhằm đoàn kết các quốc gia hướng đến mục tiêu thương mại tự do, cuộc chiến thuế quan có thể gây suy giảm tăng trưởng kinh tế, xóa bỏ các lợi ích mà thương mại đã mang đến cho mọi người trên khắp thế giới, đồng thời đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên 70 năm tự do thương mại.

Nguồn: Fortune

Từ khóa: Thương mại tự do, thuế quan, Mỹ, tăng trưởng

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008750406
Go to top