
Khu vực này có thể hưởng lợi khi Trung Quốc khắc phục xong các mối lo ngại về tính minh bạch và mở rộng dự án BRI hơn nữa.
Cuối tuần trước, các nhà lãnh đạo Đông Nam Á đã tập trung tại Bangkok để tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 34 trong bối cảnh tăng trưởng thương mại toàn cầu chậm lại rõ rệt.
Nếu các nước muốn khai phá tiềm năng chưa được khai thác của châu Á để phát triển bền vững, các nước cần nắm bắt cơ hội mà Sáng kiến Vành đai và Con đường cải tiến của Trung Quốc (BRI) mang lại nhằm thúc đẩy thương mại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế.
Đông Nam Á sẽ là bệ thử nghiệm cho BRI 2.0, phiên bản mới của chương trình cơ sở hạ tầng khổng lồ của Bắc Kinh, được chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình công bố tại Diễn đàn Vành đai và Con đường hồi tháng 4.
Khu vực này hội tụ đủ điều kiện để triển khai dự án. Tuy nhiên, nếu ASEAN muốn khai thác tối đa lợi ích từ sự hỗ trợ của Trung Quốc trong kết nối cơ sở hạ tầng, khu vực này sẽ phải góp sức hỗ trợ trong lĩnh vực kết nối chính sách, bao gồm việc thúc đẩy hội nhập kinh tế và cắt giảm các rào cản thương mại.
Đông Nam Á có hàng nghìn năm lịch sử và quan hệ thương mại với Trung Quốc, lợi thế gần gũi về địa lý, đồng thời sẽ hưởng lợi từ thực tiễn của tiến trình toàn cầu hóa đang theo hướng đa chiều, hợp tác khu vực thắt chặt hơn sẽ là con đường phát triển tốt nhất.
Giai đoạn tăng trưởng xuất khẩu tiếp theo của Trung Quốc sẽ cho thấy sự dịch chuyển chuỗi giá trị, sản xuất nhiều sản phẩm tinh vi hơn, hấp dẫn giới thượng lưu hơn. Tuy nhiên để làm được điều đó, họ cần phải hội tụ đủ hai yếu tố, đó là giải phóng lao động và các nguồn lực khác, đồng thời phát triển phân khúc khách hàng mới cho những sản phẩm trên nhằm bù đắp cho sự tăng trưởng mờ nhạt trong thương mại với các thị trường phương Tây truyền thống.
BRI có những khía cạnh phức tạp, tuy nhiên từ góc nhìn của Đông Nam Á thì có hai khía cạnh nổi bật. Đầu tiên là những lợi ích của việc thiết lập hệ thống cơ sở hạ tầng truyền thống: đường bộ, cảng biển, đường sắt, và nền tảng kỹ thuật số, sẽ thắt chặt khu vực châu Á rộng lớn với nhau.
Cho đến nay, một số quốc gia vẫn thận trọng khi xem xét các đề nghị từ BRI của Trung Quốc, phần lớn do sự thiếu minh bạch của một số thỏa thuận gây ra. Chủ tịch Tập Cận Bình đã phát biểu vấn đề này trước diễn đàn, ông hứa hẹn rằng: “Mọi thứ nên được thực hiện một cách minh bạch và chúng ta không nên chấp nhận tình trạng tham nhũng trong các dự án.”
Trung Quốc có nghĩa vụ đảm bảo việc thực hiện cam kết của chủ tịch Tập Cận Bình.
Ngân hàng Phát triển châu Á ước tính rằng châu Á cần đầu tư 1.7 nghìn tỷ USD mỗi năm vào cơ sở hạ tầng nhằm duy trì tăng trưởng. Cho đến nay, khoảng 80% vốn tài trợ của các dự án Vành đai và Con đường đến từ các ngân hàng chính sách Trung Quốc và sâu hơn chính là túi tiền của đại lục, cơ sở hạ tầng của châu Á hiện nay chưa phù hợp với quy mô tham vọng mà BRI thể hiện.
Với BRI 2.0, sự đóng góp của Trung Quốc được xem là vốn cơ sở, có thể được tận dụng để thu hút vốn đầu tư thương mại từ bên trong và bên ngoài đại lục, bao gồm các tổ chức tài chính quốc tế, ngân hàng và các thị trường trái phiếu quốc tế. Yi Gang, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, phát biểu với các địa biểu tại diễn đàn rằng nước này sẽ “xây dựng một hệ thống tài chính và đầu tư theo định hướng thị trường mở cửa”. Điều này cho thấy nếu Bắc Kinh huy động vốn quốc tế thành công để thực hiện giấc mơ của mình, các dự án BRI phải tạo ra lợi nhuận thương mại, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về tính minh bạch và thực hiện các thông lệ quốc tế về quản lý và bền vững.
Và cũng sẽ mất một thời gian để trấn an các nhà phê bình ở các nước nhận viện trợ, những người vốn cho rằng trong một số trường hợp các thỏa thuận thiếu minh bạch đã bị đội giá và khả năng sinh lời của các dự án gây tranh cãi. Mặc dù không có các thỏa thuận mới đáng kể nào được công bố kể từ Diễn đàn, sự sẵn sàng của Bắc Kinh trong đàm phán các điều kiện về dự án đường sắt ở Malaysia và tiếp tục sửa đổi cơ cấu của một thỏa thuận tương tự đưa ra cho Thái Lan thể hiện sự linh hoạt và khả năng đáp ứng mới trước những lo ngại của các quốc gia nhận viện trợ. Trung Quốc cũng cam kết sử dụng nhân sự và nguồn lực từ các nước sở tại nhiều hơn.
Bắc Kinh không thể hiện bất kỳ ưu tiên rõ ràng nào đối với cơ cấu thỏa thuận theo hệ thống mới, tuy nhiên, một trọng tâm mới trong việc khuyến khích các nước thứ ba cung ứng vốn đã mở ra một loạt các giải pháp tiềm năng, bao gồm viện trợ thương mại, quan hệ đối tác công tư, bảo lãnh vay ngân hàng chính sách từ nước thứ ba, và các quỹ đầu tư liên chính phủ.
Quy trình tiếp nhận tài trợ BRI do Trung Quốc đặt ra được các nước khác nhau ký kết như Anh, Thụy Sĩ, và một nửa thành viên ASEAN, đặt ra vai trò chung cho các chính phủ, ngân hàng chính sách và đặc biệt là khu vực tư nhân. Sự tham gia của khu vực tư nhân sẽ giúp đảm bảo rằng các dự án phù hợp với các tiêu chuẩn toàn cầu về khả năng sinh lợi, minh bạch và quản trị.
Nếu BRI có thể thực hiện các tiêu chuẩn này, Sáng kiến này sẽ tạo ra cơ hội cho các thị trường tài chính, đặc biệt ở Hồng Kong và Singapore, nhằm giúp cơ cấu nguồn tài chính cho cuộc cách mạng cơ sở hạ tầng toàn cầu.
Điểm nổi bật thứ hai là những lợi ích dài hạn mà các khoản đầu tư BRI sẽ tạo ra cho các nước nhận viện trợ. Với BRI, Trung Quốc đang tích cực khuyến khích đa dạng hóa chuỗi cung ứng, đặc biệt là các ngành công nghiệp thâm dụng lao động cao mà nước này muốn thay thế bằng sản xuất công nghệ cao mới.
Đây là cơ hội không chỉ cho các công ty trong khu vực muốn phát triển, mà còn cho các công ty quốc tế hướng đến Trung Quốc như một cơ sở sản xuất thế giới, song hiện các công ty lại đang xem xét các lựa chọn thay thế khác.
Đối với các nhà đầu tư khu vực, Trung Quốc và quốc tế, sự cam kết sâu rộng của Trung Quốc với Đông Nam Á có thể mang lại cơ hội tăng trưởng kinh tế, điều này sẽ lan nhanh đi khắp khu vực. Tăng trưởng được BRI hỗ trợ có thể thúc đẩy sự gia tăng tầng lớp trung lưu trong khu vực, làm thay đổi mục tiêu đầu tư trong sản xuất từ xuất khẩu đến tiêu dùng địa phương.
Tuy nhiên, Đông Nam Á nên nỗ lực để hưởng lợi hoàn toàn từ những cơ hội này. Khu vực này sẽ hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nếu có thể khởi động lại chương trình hội nhập ASEAN bị đình trệ từ hơn một thập kỷ trước.
Với tổng dân số khoảng 650 triệu người và 2.4 nghìn tỷ GDP, Đông Nam Á là một thị trường hấp dẫn và một địa điểm tốt cho chuỗi cung ứng phân tán, song thị trường này hiện bị cản trở bởi các rào cản thương mại thuế quan và phi thuế quan của khu vực.
Vấn đề này làm tăng chi phí cho các công ty muốn chuyển từ sản xuất linh kiện sang bước tiếp theo của chuỗi cung ứng hay để sản xuất các thành phẩm cho người tiêu dùng địa phương. Mặt trái của việc xóa bỏ các rào cản bị hạn chế bởi sự thay đổi trong phát triển kinh tế của khu vực, nghĩa là các nền kinh tế khác nhau khó có thể cạnh tranh trực tiếp với cùng một loại ngành kinh doanh. Ưu điểm của việc này lại rất lớn: một nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) gần đây ước tính rằng việc xóa bỏ các rào cản thuế quan ở châu Á sẽ làm tăng nhập khẩu nội khối lên gần 76%.
BRI 2.0 cho thấy một cơ hội tuyệt vời cho Đông Nam Á bước vào giai đoạn tiếp theo của tăng trưởng. Cam kết mới về tính minh bạch hứa hẹn một kỷ nguyên mới về quan hệ đối tác có lợi cho tất cả các bên.
Nguồn: Nikkei Asian Review
Từ khóa: BRI 2.0, Trung Quốc, vốn đầu tư, Đông Nam Á, hưởng lợi
Các tin khác
- Ký kết EVFTA: 'Cú hích' cho ngành nông sản, dệt may, giày dép - 27/06/2019
- Rào cản khiến Mỹ - Trung khó chấm dứt chiến tranh thương mại tại G20 - 27/06/2019
- Ba cuộc gặp cấp cao đáng chú ý nhất bên lề Hội nghị Thượng đỉnh G20 - 27/06/2019
- ASEAN đã có màn khởi đầu đáng khích lệ, nhưng còn phải cố gắng nhiều hơn nữa trong vấn đề xử lý rác thải biển - 27/06/2019
- Đàm phán về đánh bắt thủy sản tại WTO: Không được phép thất bại - 27/06/2019






















