
Hiện nay, Liên minh châu Âu đang ngày càng bị chia rẻ trong quan điểm về mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc – quốc gia đang đẩy mạnh chính sách hướng ngoại. Mặc dù nhìn chung, chính phủ các nước châu Âu đều thận trọng với nguồn vốn đầu tư từ quốc gia châu Á, nhưng điều đó không có nghĩa là các nước này nên phớt lờ tầm nhìn về phát triển cơ sở hạ tầng xuyên biên giới của Trung Quốc.
Đã từ rất lâu người ta luôn cho rằng, chỉ có một hiện tượng toàn cầu hóa duy nhất, đó là khi dòng vốn tài chính xuyên biên giới thúc đẩy tiến trình đổi mới, công nghiệp hóa, phát triển và thương mại. Nhưng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Sáng kiến Vành đai và Con Đường (BRI) đã đưa ra một định nghĩa khác về toàn cầu hóa, đó là khi cơ sở hạ tầng vật chất được tích hợp thành một hệ thống chung. Thế giới vật chất của tàu thủy và xe lửa sẽ thay thế cho thế giới phi vật chất của dòng chảy tài chính.
Tuy nhiên, mặc dù ông Tập xem BRI là phương cách giản đơn để thay thế tiến trình toàn cầu hóa cũ – vốn được hậu thuẫn bởi giới phương Tây bảo thủ và bất ổn, Trung Quốc cần phải giải quyết các thách thức trong nước trước tiên: phát triển kinh tế của Trung Quốc mới chỉ tập trung tại các thành phố ven biển, nơi mà giới quyền thế giàu có và sành điệu đang nổi lên. Để ổn định xã hội, Trung Quốc phải đảm bảo được lợi ích từ tăng trưởng kinh tế phi thường của Trung Quốc phải được phân phối đồng đều trên khắp đất nước.
Tất nhiên, đây không phải là vấn đề của riêng Trung Quốc. Trong lịch sử, các thành phố thương mại lớn nhất hầu như luôn luôn nằm ở vùng duyên hải, ven biển hoặc gần các con sông. Ví dụ, nhiều thế kỷ trước, Amsterdam, Antwerp, Genova và Venice - thậm chí cả Athens và Tyre cổ đại - từng là trung tâm thương mại của thế giới. Ngày nay, các đô thị như London, New York, Tokyo, Hồng Kông, Thượng Hải, Dubai, Sydney và Rio de Janeiro đóng những vai trò tương tự.
Theo sáng kiến BRI, “Vành đai” (Belt) mô tả các dự án trên bộ liên kết khắp vùng Âu - Á, trong khi “Con đường” (Road) đề cập đến các kết nối hàng hải (mặc dù điều này hơi trái với trực giác thông thường). Ý tưởng của BRI là mong muốn các vùng lãnh thổ ở sâu bên trong nội địa, như Trung Á và Đông Âu, có thể kết nối với phần còn lại của nền kinh tế toàn cầu, như các trung tâm ven biển ngày nay.
Bên ngoài Trung Quốc, BRI đặc biệt hấp dẫn các quốc gia là nạn nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng đồng Euro sau đó. Ví dụ, trong những ngày đen tối nhất của cuộc khủng hoảng nợ công, Hy Lạp đã chấp nhận đầu tư của Trung Quốc, bằng cách bán 51% cổ phần cảng Piraeus cho Tập đoàn Vận tải Biển Trung Hoa (COSCO). Tương tự, Serbia phải hứng chịu sự ngắt quãng đột ngột của dòng vốn tài chính trong những năm khủng hoảng, và giờ đây nước này hy vọng sẽ trở thành một trung tâm kết nối, mặc dù quốc gia này chưa phải là thành viên của Liên minh châu Âu.
Trong khi đó, Thủ tướng Bồ Đào Nha António Costa đã hoan nghênh đầu tư của Trung Quốc, và gần đây ông đã cảnh báo về các biện pháp bảo hộ sâu rộng nhằm hạn chế hoạt động của các công ty Trung Quốc ở phương Tây. Chính phủ liên minh dân túy Italy vừa ký kết Bản ghi nhớ với Trung Quốc để ủng hộ BRI. Và ngay cả Vương quốc Anh, quốc gia sa lầy trong mớ hỗn loạn Brexit, có thể xem đầu tư và kinh tế của Trung Quốc là phao cứu sinh địa chính trị mới.
Việc Trung Quốc sử dụng cơ sở hạ tầng để liên kết các khu vực chưa được toàn cầu hóa không phải là nỗ lực chưa có tiền lệ. Hơn một thế kỷ trước, Anh là cường quốc hàng đầu thế giới, nhưng Đức đã bắt kịp sự giàu có và tiến bộ công nghệ của nước Anh. Giống như Trung Quốc ngày nay, Đức muốn thị uy quyền lực cả trên đất liền lẫn trên biển. Tuy nhiên, để cạnh tranh với nước Anh, Đức không thể chỉ dựa vào lực lượng hải quân của nước này, vì vậy Đức đã đưa ra một chiến lược tương tự BRI ngày nay: một tuyến đường sắt kéo dài từ Berlin đến Baghdad.
Giống như BRI, tuyến đường sắt mới của Đức kết nối các khu vực xa xôi trên đất liền và hấp dẫn những quốc gia bị bỏ lại trong thời kỳ toàn cầu hóa. Nổi lên trong số này là Đế chế Ottoman, quốc gia đã sống sót trong suốt thế kỷ XIX như một “bệnh nhân ốm yếu ở châu Âu”, thiếu khả năng cải cách và hiện đại hóa tài chính, kinh tế. Các thế lực nước ngoài đã kiểm soát hoạt động hải quan và nắm giữ nguồn thu của chính phủ.
Ngoài ra, giống như BRI, dự án cơ sở hạ tầng Berlin - Baghdad của Đức dựa vào áp lực chính phủ để duy trì nguồn tài chính hào phóng từ các ngân hàng khu vực tư nhân (trên hết là Deutsche Bank). Ottoman, tất nhiên, sẽ phải trả giá đắt với những khoản vay như thế. Nhưng vào thời điểm đó, các khoản vay của Đức dường như tạo ra lối thoát cho cái bẫy nợ mà Anh và Pháp đã đặt ra.
Mặc dù vậy, kế hoạch xây dựng tuyến đường sắt dường như bị che phủ bởi tham vọng của Đức, mà bỏ qua việc tính toán thực tế. Bởi lẽ, chặng cuối cùng phải đi qua những vùng khô cằn nhất ở Anatolia, với rất ít giao thương.
Giống như thế, BRI cho thấy trục trặc đầu tư trên quy mô lớn. Giới phê bình đã cho biết, một cây cầu do Trung Quốc tài trợ ở hẻm núi Moraca tại Montenegro là ví dụ điển hình về một cây cầu có thực nhưng biến thành hư không. Mặc dù cây cầu này được thiết kế để kết nối Serbia với bờ biển Adriatic, nhưng thực tế nó chẳng kết nối được gì, kể cả trong tương lai gần. Nói cách khác, cây cầu chỉ là một sản phẩm dẫn đến nợ nần.
Với việc Tổng thống Pháp Emmanuel Macron thúc đẩy Phục hưng Châu Âu, người ta có thể mường tượng về một tương lai, trong đó châu Âu được hợp nhất không chỉ về mặt chính trị mà cả về hạ tầng, thông qua các tuyến đường sắt tốc độ cao, lưới điện, đường ống dẫn dầu và dẫn khí. Có lẽ, quá trình toàn cầu hóa tài chính trong nhiều năm qua, mạnh đến mức đã bỏ qua những loại hình kết nối trên đây.
Tuy nhiên, các nước châu Âu đang bị chia rẻ bởi Trung Quốc. Nhiều chính phủ và tập đoàn đang lo ngại về hành vi đánh cắp tài sản trí tuệ, và nỗi lo này là chính đáng. Nhưng những nước khác coi đầu tư của Trung Quốc là nguồn lực tài chính mới đáng hoan nghênh, hoặc là cách thức để đối trọng với ảnh hưởng bởi các quốc gia Bắc Âu trong EU.
Ở một mức độ nào đó, cách tiếp cận toàn cầu hóa của Trung Quốc sẽ thúc đẩy châu Âu tìm kiếm những con đường phát triển thay thế của riêng mình. Điều đó có nghĩa là châu Âu sẽ từ bỏ Kế hoạch Juncker – kế hoạch đầu tư hạ tầng đầy tham vọng, nhưng lại khiêm tốn và hạn chế, để theo đuổi một chương trình nghị sự tham vọng hơn nhiều.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến châu Âu phải đương đầu với thách thức xây dựng một hệ thống tài chính ổn định hơn. Nhưng điều đó là chưa đủ để tạo ra một dạng thức toàn cầu hóa lâu bền. Chuyến công du châu Âu gần đây của ông Tập đã chỉ ra một con đường khả dĩ phía trước. Và giờ là lúc người châu Âu quyết định cách thức họ thiết lập kênh kết nối và đầu tư vào những khu vực đã bị tụt hậu quá lâu.
Nguồn: Project – Syndicate
Từ khóa: toàn cầu hóa, cũ, mới
Các tin khác
- Đối phó với các rào cản phi thuế ở cấp độ khu vực và quốc tế - 04/04/2019
- Tân Bộ trưởng Thương mại Hàn Quốc mong muốn đột phá trong các cuộc đàm phán FTA - 04/04/2019
- Doanh nghiệp Việt tìm "cửa hẹp" tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu - 04/04/2019
- USMCA và tương lai cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư - 04/04/2019
- ASEAN cần nâng cao tính gắn kết để định hướng trong một trật tự thương mại mới - 03/04/2019






















