JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếTranh chấp giữa Nhật Bản với Trung Quốc làm tăng cơ hội phát triển quan hệ Thương mại và Đầu tư giữa Nhật Bản và Việt Nam

Tranh chấp giữa Nhật Bản với Trung Quốc làm tăng cơ hội phát triển quan hệ Thương mại và Đầu tư giữa Nhật Bản và Việt Nam

VietNamNhatBan1004

Cách tiếp cận ngày càng hiếu chiến của Trung Quốc trong các vấn đề thương mại và chính trị của khu vực và quốc tế đang khiến các nhà đầu tư và doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải phân tán rủi ro, bằng cách dần rút lui khỏi Trung Quốc và chuyển hướng đầu tư vào những thị trường khác.

Cổ phiếu Apple vừa mất hơn 70 tỷ USD giá trị vốn hóa trên thị trường chứng khoán khi giá trị cổ phiếu giảm 10%, do dự báo doanh thu yếu kém tại thị trường Trung Quốc. Apple đã đầu tư rất nhiều vào thị trường sản xuất và tiêu thụ tại quốc gia này.

Trung Quốc đã đe dọa rằng các công ty Mỹ như Boeing và Apple sẽ phải lãnh hậu quả từ cuộc chiến thương mại. Và, đúng như lời đe dọa ấy, những hậu quả là có thật. Chiến lược này từng được vào những ngày đầu của cuộc chính quyền Trung Quốc trong giai đoạn 1949. Khi đó, Anh quốc phải thừa nhận sự tồn tại của chính phủ Trung Quốc để bảo vệ những vị trí của mình ở Thượng Hải, Hồng Kông và nhiều nơi khác.

Từ thời của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, các bằng chứng thống kê cho thấy Trung Quốc luôn dùng thương mại làm đòn bẩy để giành lấy sự nhượng bộ chính trị từ các nước khác. Các doanh nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc và Na-Uy từng bị Trung Quốc gây khó dễ vì các chính sách quốc phòng của chính phủ nước họ.

Rủi ro kinh doanh tại Trung Quốc gia tăng

Kể từ khi Donald Trump trở thành Tổng thống Mỹ vào năm 2017, những rủi ro đối với hoạt động đầu tư vào Trung Quốc đã tăng lên đáng kể. Điều này không chỉ khiến các doanh nghiệp Mỹ mà cả Nhật Bản cũng muốn tìm kiếm những vùng đất mới để đầu tư. Và Việt Nam chính là một địa điểm lý tưởng để phát triển mối quan hệ thương mại và đầu tư với Nhật Bản.

Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos vào tháng 1, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã mở lời mời gọi các nhà đầu tư đến Việt Nam. Chia sẻ với tờ Bloomberg vào ngày 20/1, ông cho biết Việt Nam kỳ vọng sẽ tăng trưởng trong khoảng từ 6,6% đến 6,8%, và giữ lạm phát ở mức ổn định. Ông cho biết Việt Nam đang thúc đẩy các chính sách chào đón doanh nghiệp nước ngoài và mở cửa thương mại.

Trả lời với Bloomberg, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói: “Chúng tôi đã sẵn sàng nắm bắt cơ hội. Chúng tôi đang cố gắng gia tăng xuất khẩu các sản phẩm của mình, cả về số lượng và chất lượng, đặt biệt là đối với những mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế, chẳng hạn như thủy sản, thực phẩm, giày dép và đồ điện tử”. Ông hi vọng hoạt động xuất khẩu sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng trên 6%, tạo thêm nhiều việc làm, và thoát khỏi bẩy thu nhập trung bình.

Năm 2017, Giáo sư Junaid Shaikh và Phó giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại Đinh Thị Bảo Linh từng giải thích rằng: ”Do sự nổi lên gần đây của Trung Quốc và tham vọng của nước này tại Biển Đông, những nước lớn như Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ đã xem Việt Nam là một đối tác quan trọng trong những chiến lược châu Á mới của mình”.

Họ nói thêm: “Trong quá trình tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế, Việt Nam đang mở cửa thị trường nội địa với 100 triệu người tiêu dùng, tạo ra nhiều cơ hội xuất khẩu cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư quốc tế”.

Báo cáo về rủi ro kinh doanh tại Việt Nam trong quý I năm 2019 của công ty Fitch Solutions đã dự báo: “Việt Nam sẽ tìm cách củng cố quan hệ với Mỹ - và có thể là cả Ấn Độ và Nhật Bản – trong lĩnh vực an ninh, để chống lại áp lực ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực”.

Những doanh nghiệp có ý định đầu tư vào Việt Nam ngày càng tin rằng cuộc chiến thương mại của Tổng thống Trump với Trung Quốc đã tạo cơ hội tăng trưởng cho Việt Nam. Thái độ hung hăng của Trung Quốc đối với các doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản đang hoạt động tại Trung Quốc đã khiến các nhà đầu tư của Mỹ dè chừng và chuyển hướng kinh doanh đến những nơi khác, trong đó có Việt Nam.

Hiện tượng tương tự cũng diễn ra với Nhật Bản. Quan hệ giữa nước này với Trung Quốc thậm chí còn căng thẳng hơn do số lần chạm trán quân sự trên biển Hoa Đông. Và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật có sẵn tại Việt Nam cũng cao hơn nhiều so với của Mỹ.

Trung Quốc muốn gắn liền các mối quan hệ thương mại và đầu tư với những sự nhượng bộ chính trị từ Mỹ, Nhật Bản, Úc và Hàn Quốc. Khi không đạt được sự nhượng bộ chính trị, Trung Quốc đối xử với các công ty nước ngoài tại thị trường mình như những con tin. Họ gây áp lực, làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty nước ngoài, hi vọng rằng những công ty này sử dụng tầm ảnh hưởng chính trị tại quê nhà để làm thay đổi những chính sách thương mại hay đối ngoại theo hướng có lợi cho Bắc Kinh.

Tim Cook, CEO của Apple, từng cố gắng ngăn chặn cuộc chiến thương mại của Tổng thống Trump, vì những lợi ích riêng. Khi cuộc chiến thương mại nóng lên, doanh thu dự kiến của Apple tại Trung Quốc đã giảm mạnh và cổ phiếu công ty mất 10% giá trị. Chiến lược đối ngoại của Trung Quốc có thể có hiệu quả trong ngắn hạn, những trong dài hạn, nó chỉ khiến dòng vốn chảy ra khỏi đất nước. Ngay cả những nhà đầu tư Trung Quốc cũng đang tháo chạy khỏi nước mình.

Việt Nam hưởng lợi khi trở thành địa điểm thay thế Trung Quốc

Việt Nam là một trong nhiều nước hưởng lợi từ sự chuyển dịch dòng chảy vốn.

Dòng tiền buộc phải tìm đến những nơi khác, và các nhà lãnh đạo Việt Nam đang mong đợi những nguồn đầu tư này, và họ sẵn sàng tạo ra ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam đang tăng trưởng GDP từ 6% đến 7% mỗi năm, lạm phát thấp, thị trường thiên về xuất khẩu, đang đẩy mạnh các chính sách ngoại giao để tăng cường xuất khẩu, và có một thị trường lao động rẻ nhưng cũng tương đối lành nghề.

FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) có lẽ là chỉ số dài hạn mạnh mẽ nhất để diễn tả một mối quan hệ kinh tế tích cực giữa hai quốc gia, bởi vì FDI còn bao gồm những chi phí chìm có thể phát sinh trong dài hạn khi mối quan hệ song phương xấu đi. Các nhà đầu tư thường đặt tiền của họ vào nơi có tỷ lệ rủi ro trên lợi nhuận dự kiến ổn định trong dài hạn.

Trong năm 2000, dòng chảy FDI của Nhật Bản vào Việt Nam chỉ đạt 39 triệu USD (cán cân thanh toán cơ sở). Con số này đạt mức kỷ lục vào năm 2013 (3,3 tỷ USD), sau đó giảm xuống nhưng vẫn ở mức đáng kể vào năm 2015 (1,3 tỷ USD). Nó đã tăng lại thành 2 tỷ USD vào năm 2017.

Giá trị FDI của Nhật Bản vào Việt Nam cũng chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trên tổng các dòng vốn FDI của Nhật. Trong năm 2000, tỷ lệ FDI của Nhật vào Việt Nam chỉ chiếm 0,12% tổng FDI, nhưng đến năm 2017, con số này tăng thành 1,19%. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, cũng trong năm 2017, Nhật Bản có 397 dự án FDI được cấp phép tại Việt Nam, tổng vốn đăng ký đạt 9,2 tỷ USD, cao hơn vốn đầu tư của bất kỳ quốc gia nào tại Việt Nam.

Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Nhật Bản và Việt Nam cũng rất phát triển. Trong năm 2017, Nhật Bản xuất khẩu 15 tỷ USD hàng hóa vào Việt Nam, và nhập khẩu 18,5 tỷ USD. Mức chênh lệch cán cân thương mại 3,5 tỷ USD cho thấy Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản nhiều hơn giá trị Nhật Bản xuất sang Việt Nam. Điều này khiến Nhật Bản trở thành nguồn ngoại hối quan trọng của Việt Nam, và tạo động lực để Việt Nam củng cố quan hệ thương mại với Nhật Bản.

Sự bền vững trong quan hệ kinh doanh giữa Việt Nam và Nhật Bản

Một nghiên cứu của trang Asian Economic Journal công bố vào năm 2017 phát hiện rằng các tập đoàn đa quốc gia (MNEs) Nhật Bản kinh doanh tại Việt Nam có cơ hội sống sót cao hơn, so với những MNEs từ nhiều nước khác, đặc biệt là khi họ hợp tác với những doanh nghiệp nhà nước và sở hữu nhiều cổ phần.

Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản đang tăng lên nhanh chóng. Tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 12,0% đối với giá trị xuất khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam, và 14,1% đối với giá trị nhập khẩu từ Việt Nam (tính đến tháng 10 năm 2018). Việt Nam thực sự là một thị trường ngày càng nở rộ đối với Nhật Bản, có thể là điểm đến cho nhiều doanh nghiệp khi mà cơ hội tại Trung Quốc ngày càng đi xuống. Quan hệ thương mại vẫn còn nhiều cơ hội phát triển, bởi vì giá trị xuất khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam chỉ mới chiếm 2,2% tổng giá trị xuất khẩu, và nhập khẩu từ Việt Nam chỉ chiếm 2,8% tổng giá trị nhập khẩu.

Những dự án đa quốc gia tại Việt Nam

Một ví dụ về dự án FDI Nhật Bản tại Việt Nam là Nhà máy Điện Nghi Sơn ở tỉnh Thanh Hóa. Nhà máy nhiệt điện than được xây dựng trong một khu kinh tế hình thành vào năm 2005, có nhu cầu tiêu thụ điện năng cao.

Năm 2010, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã trao cho công ty Marubeni Nhật Bản một bản hợp đồng trị giá 1,2 tỷ USD để xây dựng nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1 với công xuất 600 megawatt. Quá trình xây dựng diễn ra ngay sau đó, và hai đường dây cung cấp điện 300 megawatt đầu tiên đã đi vào hoạt động từ tháng 6/2013 và tháng 6/2014.

Tháng 3/2013, Bộ Công thương Việt Nam trao hợp đồng thứ hai cho một liên doanh Nhật Bản – Hàn Quốc, bao gồm Công ty Marubeni và Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc (KEPCO), để xây dựng nhà máy Nhiện điện Nghi Sơn 2 với công xuất 1,320 megawatt. Sau khi nhà máy hoàn thành, phía doanh nghiệp sẽ vận hành chúng trong 25 năm, sau đó quyền sở hữu sẽ thuộc về Việt Nam.

Kinh phí cho hợp đồng trị giá 2,3 tỷ đã được phê chuẩn vào tháng 4/2018, với sự tài trợ của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hàn Quốc (mỗi bên cho vay 560 triệu USD), và một nhóm các ngân hàng khác đến từ Nhật Bản, Malaysia và Singapore. Quá trình xây dựng được triển khai nhanh chóng từ tháng 7/2018, và nhà máy dự kiến sẽ đi vào hoạt động trong năm 2022.

Cải cách kinh tế thúc đẩy đầu tư

Hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với đất nước, vậy nên Việt Nam đang tiến hành những cải cách kinh tế quan trọng dựa trên sự tham vấn từ Nhật Bản và các đối tác thương mại khác, cũng như từ các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Quá trình tự do hóa chính sách FDI của Việt Nam bắt đầu từ khi bộ luật FDI ra đời vào năm 1987, và được chỉnh sửa vào các năm 1992, 1996 và 2000. FDI của Nhật Bản đã gia tăng mạnh mẽ từ sau giai đoạn đó, như được đề cập ở trên.

Luật Đầu tư có hiệu lực năm 2006 đã thúc đẩy việc đối xử công bằng giữa các nhà đầu tư nội địa và nước ngoài. Song song đó, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 1/2007 và Hiệp định Tự do Thương mại (FTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện (EPA) giữa Việt Nam và Nhật Bản đã khiến dòng chảy FDI Nhật Bản vào Việt Nam tăng 700% trong giai đoạn từ 2006 đến đỉnh điểm 2013. Theo EPA, thuế suất 0% được áp dụng cho 456 mặt hàng, bao gồm gạch đá xây dựng, nhôm, thép, đường, thiết bị, máy móc, và phụ tùng xe hơi.

Trong quý 1 năm 2018, Bộ Tài chính Việt Nam đã trình 10 dự thảo nghị định liên quan đến thuế quan ưu đãi cho 10 FTA của Việt Nam trong giai đoạn 2018-2020. Trong đó bao gồm FTA của Việt Nam với Nhật Bản.

Hầu hết các mặt hàng sẽ được hưởng thuế nhập khẩu 0% từ tháng 1/2018. Những sản phẩm khác sẽ có lộ trình thuế giảm dần đến năm 2022. Điều này sẽ làm gia tăng lượng hàng hóa trung gian nhập khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam, để phục vục cho các công đoạn sản xuất.

Thủ tưởng Nguyễn Xuân Phúc đã gặp gỡ Ngoại Trưởng Nhật Bản Taro Kano tại Hà Nội vào tháng 11/2018, tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN 2018, chủ trì bởi Việt Nam. Tại cuộc họp, Thủ tướng đã đề xuất tăng cường các mối liên kết kinh tế giữa hai quốc gia, và mong muốn Nhật Bản gia tăng hoạt động tại khu vực Mê Kong của Việt Nam. Trong năm 2019, theo Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN-Nhật Bản, 5% số dòng thuế nhập khẩu hiện hành sẽ được gỡ bỏ tại Việt Nam đối với nhiều mặt hàng.

Những thách thức trong tương lai

Sẽ tiếp tục còn những chướng ngại trên con đường đầu tư và thương mai giữa Nhật Bản và Việt Nam, bao gồm vấn nạn tham nhũng, thực trạng cơ sở hạ tầng, tranh chấp lao động, và sự chững lại của nền kinh tế Trung Quốc.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư Nhật Bản vẫn đang không ngừng gia tăng dòng vốn FDI vào Việt Nam từ năm 2015. Ngoài ra, các quan chức Nhật Bản đang làm việc với lãnh đạo Việt Nam để tiếp tục quá trình cải thiện những điều kiện kinh tế và chính trị của Việt Nam, một quá trình đã bắt đầu từ 30 năm trước.

Sự chững lại của kinh tế Trung Quốc có thể xem là cơ hội trong dài hạn, thay vì là tổn thất ngắn hạn, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản. Khi cuộc chiến thương mại của Trung Quốc nóng lên, áp lực đa dạng hóa nguồn đầu tư toàn cầu từ Trung Quốc ra các thị trường khác sẽ chỉ làm tăng dòng chảy FDI và thương mại đến Việt Nam.

Hoạt động đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam sẽ tiếp tục tăng lên qua từng năm, cũng như những lợi ích mà Nhật Bản sẽ nhận được từ hoạt động đầu tư quốc tế vào khu vực Mê Kông.

Nguồn: Japan Forward

Từ khóa: Hiệp định tự do thương mại, hội nhập kinh tế, chiến tranh thương mại, VJFTA, VJEPA

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008746964
Go to top