
Tranh chấp thương mại Mỹ-Trung có thể làm thay đổi bối cảnh kinh tế và tài chính toàn cầu. Nhưng vào tháng 5/2018, tình hình có vẻ được dịu lại, khi hai nước gần như đạt được một thỏa thuận thương mại song phương. Nhưng Mỹ đã rút lại lời hứa vào phút cuối, và căng thẳng lại bùng lên từ đó, với việc chính quyền Mỹ áp thuế diện rộng lên hàng xuất khẩu của Trung Quốc, và Trung Quốc phản đòn tương tự.
Với 600 tỷ USD hàng hóa có khả năng bị ảnh hưởng bởi thuế quan - điều chưa từng có trong tiền lệ, rất đáng để xem xét việc đánh thuế có hiệu quả đến mức nào trong việc khắc phục mất cân đối tài khoản vãng lai, mục tiêu mà chính quyền Mỹ tuyên bố muốn đạt được. Hầu hết các nhà kinh tế học nhìn vấn đề thương mại từ góc độ đa phương – tức là tập trung vào cán cân tổng thể của một nền kinh tế với phần còn lại của thế giới. Và từ góc nhìn đó, cán cân của Mỹ với thế giới đã bị thâm hụt kể từ năm 1976.
Mức thâm hụt cao nhất mà Mỹ từng chứng kiến là 5.5% trên GDP hồi năm 2006, còn thông thường, mức thâm hụt quanh quẩn ở mức 3% trên GDP. Năm 2017, với tổng thâm hụt 552 tỷ USD, Mỹ là quốc gia có thâm hụt lớn nhất thế giới, xét về giá trị tuyệt đối. Thâm hụt tăng khi một nước chi tiêu nhiều hơn những gì nước đó sản xuất ra, có nghĩa là, thương mại không phải là nguyên nhân chính gây ra thâm hụt, mà tác nhân quan trọng hơn chính là tiết kiệm trong nước và hành vi đầu tư. Ở Mỹ, đầu tư chiếm 21% GDP, bằng tỷ lệ đầu tư bình quân ở các nước tiên tiến (22%), nhưng tỷ lệ tiết kiệm của Mỹ lại dưới 19%, kém xa các nước phát triển khác.
Tỷ lệ tiết kiệm thấp của Mỹ là nguyên nhân gây thâm hụt
Tỷ lệ tiết kiệm thấp của Mỹ diễn ra trong cả khu vực công lẫn khu vực tư. Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân thấp ở mức 3% trong những năm trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008, sau đó tăng lên 7% - nhưng vẫn còn kém xa mức tiết kiệm của những năm đầu thập niên 1990.
Tỷ lệ tiết kiệm trong khu vực công thậm chí còn thấp hơn. Ngân sách liên bang Mỹ chỉ thặng dự 5 năm trong tổng số 50 năm qua; từ năm 2002 đến nay, Mỹ duy trì mức thâm hụt bình quân hơn 4% GDP. Năm nay, thâm hụt đã tăng 17% do chính sách cắt giảm thuế thu nhập và do chi tiêu quốc phòng tăng, càng làm tỷ lệ tiết kiệm công đã thấp nay lại thấp hơn.
Lý do đằng sau tỷ lệ tiết kiệm thấp ở Mỹ là do đồng đô la được các nước trên thế giới sử dụng làm đồng tiền dự trữ chính. Sự thống trị của đồng đô la Mỹ đã trao cho Mỹ một “đặc quyền”, cho phép Mỹ tài trợ cho thâm hụt của mình mà ít bị ràng buộc bởi yếu tố bên ngoài, vay nước ngoài nhiều hơn đồng thời tiết kiệm trong nước ít hơn.
Con số sau đây minh họa thực tế trên rõ ràng hơn. Đến cuối năm 2017, nhà đầu tư nước ngoài sở hữu phân nửa trong tổng số 12 ngàn tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ do tư nhân nắm giữ hiện đang đến hạn.
Ở góc độ đa phương, Mỹ chỉ có thể giảm thâm hụt tài khoản vãng lai của mình thông qua cải cách cơ cấu để giải quyết tình trạng mất cân bằng giữa tiết kiệm nội địa và đầu tư. Cải cách trên trở nên ngày một cấp thiết hơn, khi tỷ lệ chi tiêu của nước này tiếp tục tăng trưởng không kiểm soát, và khi chủ nghĩa đơn phương của Mỹ trong thương mại đang khiến thế giới mất lòng tin vào đồng đô la.
Bất chấp thực trạng kinh tế trên, chính quyền Trump vẫn theo đuổi cách tiếp cận song phương. Mức thuế Mỹ đánh trên hàng xuất khẩu của Trung Quốc đặc biệt nhằm mục đích cải thiện cán cân thương mại của Mỹ với Trung Quốc. Nhưng nếu Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc ít đi, Mỹ đơn giản là sẽ phải nhập khẩu nhiều hơn từ các nước khác. Số liệu mới nhất cho thấy, tổng thâm hụt thương mại của Mỹ có khả năng không thay đổi hoặc thậm chí còn tăng thêm.
Tác dụng phụ của đánh thuế
Thuế quan sẽ làm tăng chi phí trên diện rộng. Như nhà kinh tế học người Mỹ Henry George đã nhận ra được điều này từ 132 năm trước, “bảo hộ dạy chúng ta một điều, đó là hãy làm cho chính chúng ta trong thời bình những gì mà kẻ thù muốn gây ra cho chúng ta trong thời chiến”. Trên thực tế, lịch sử có đầy các trường hợp đánh thuế cao khiến tình trạng đình trệ kinh tế chuyển thành suy thoái lớn. Và thậm chí trong giai đoạn tăng trưởng, mức thuế của chính quyền Trump không những khiến cho người tiêu dùng Mỹ phải trả nhiều tiền hơn cho hàng nhập khẩu, mà còn làm suy yếu nền sản xuất của Hoa Kỳ, vì bóp méo động lực kinh doanh và phân bổ sai nguồn lực.
Hơn nữa, các biện pháp thuế quan một đi tung ra rất khó để thu hồi, bởi vì thuế quan làm nảy sinh các đặc quyền và mời gọi sự trả đũa. Ngoài ra, mặc dù thuế quan làm phát sinh chi phí về dài hạn, các nước vẫn bị “nghiện” dùng thuế quan như một công cụ chính trị, bởi vì công cụ này cho phép chính phủ đạt được mục tiêu ngắn hạn, thay vì thực hiện nhiệm vụ khó khăn hơn là cải cách cơ cấu. Nhưng thậm chí nếu giới chính trị sẵn sàng làm lơ các rủi ro của chủ nghĩa bảo hộ, thị trường thì không thể, bằng chứng là, thị trường chứng khoán Mỹ đã biến động mạnh trong tháng 10.
Còn về phía Trung Quốc, việc trung thành với quan điểm đa phương trong thương mại, đi kèm với cải cách cơ cấu, đã giúp Trung Quốc giảm tình trạng mất cân đối với bên ngoài. Không như Mỹ, Trung Quốc có tỷ lệ tiết kiệm rất cao và tỷ lệ chi tiêu cũng thấp. Nhưng sau khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nay, Trung Quốc đã ban hành các chính sách để thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn và tăng cường an sinh xã hội, từ đó, thúc đẩy chi tiêu và giảm tiết kiệm.
Công cuộc cải cách đã làm giảm thặng dư tài khoản vãng lai của Trung Quốc từ mức gần 10% xuống còn 1% trên GDP trong 10 năm qua. Trong quý I năm 2018, chi tiêu dùng chiếm gần 80% GDP của Trung Quốc, phản ánh thực tế là tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào nhu cầu trong nước. Bằng việc chủ động giảm thặng dư với thế giới, Trung Quốc đã cho thấp mình không phải là một cường quốc trọng thương, mà là một thành viên có trách nhiệm, theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cân bằng và bền vững dài hạn.
Cải cách và mở cửa phải được tiếp tục
Trong thời gian tới, Trung Quốc nên tiếp tục theo đuổi cải cách để mở cửa hơn nữa nền kinh tế, ít nhất là phải cải thiện vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Các mục tiêu trên phải liên hệ chặt chẽ với mục tiêu về tăng trưởng cân bằng, bền vững.
Trung Quốc bị các nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn khi thâm nhập thị trường nước này cáo buộc vì chỉ nói miệng mà không mở cửa thực sự. Tuy nhiên, vấn đề chính của Trung Quốc không phải là thiếu cam kết cải cách, mà là các thủ tục hành chính của nước này, mà chính người dân nước này cũng than phiền. Các biện pháp gần đây như chương trình “một trạm, một chuyến, một giấy tờ” tại tỉnh Chiết Giang cho thấy Trung Quốc đang nghiêm túc với mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh.
Quan điểm đa phương có thể áp đảo quan điểm song phương hay không sẽ có tác động quan trọng trong trung và dài hạn. Rõ ràng rằng, góc độ đa phương đem lại một cái nhìn tốt hơn về mất cân bằng thương mại, hơn là góc độ song phương, và cải cách sẽ là biện pháp tốt hơn đánh thuế.
Cuối cùng, mất cân bằng với bên ngoài có thể được giải quyết chỉ bằng việc điều chỉnh mất cân bằng nội địa. Bởi vụ Trung Quốc đã ủng hộ nguyên tắc này, nền kinh tế nước này sẽ tiếp tục phát triển cân bằng và bền vững hơn, bất chấp lựa chọn của Mỹ.
Tác giả: Zhu Min – nguyên phó giám đốc điều hành tại IMF, hiện là chủ tịch Viện Nghiên cứu tài chính quốc gia tại Đại học Thanh Hoa; Miao Yanliang, kinh tế trưởng của Cơ quan Quản lý Ngoại hối Nhà nước Trung Quốc, là thành viên của diễn đàn Tài chính Trung Quốc 40 từ năm 2015.
Nguồn: Project Syndicate – TQ
Từ khóa: cân bằng thương mại, song phương, đa phương, cải cách, đầu tư
Các tin khác
- CPTPP thúc đẩy hoàn chỉnh thể chế kinh tế của Việt Nam - 28/01/2019
- Tầm quan trọng ngày càng tăng của khu vực Ấn Độ Dương trên trường quốc tế - 28/01/2019
- Các dự án Vành đai và Con đường mà Malaysia đã hủy bỏ và ý nghĩa đối với Trung Quốc - 28/01/2019
- Thỏa thuận Hoa Kỳ -Mexico - Canada giúp thúc đẩy nền kinh tế kỹ thuật số toàn cầu - 28/01/2019
- George Soros: Phản đối của các nước buộc Trung Quốc phải điều lại sáng kiến Vành đai và Con đường - 28/01/2019






















