
Sự bất bình đẳng trong hệ thống thuế quốc tế ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống thương mại theo hướng chuỗi giá trị toàn cầu. Để quá trình toàn cầu hóa có thể tồn tại, thế giới cần phải xem xét lại tiến trình này, đưa ra các chính sách và bộ quy chuẩn thuế mới, nỗ lực hơn nữa trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, tái cấu trúc các tổ chức tài chính quốc tế và các quy định thương mại để biến giấc mơ Made in World thành hiện thực.
Chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng. Thông qua việc phân tán quá trình sản xuất ở khắp các quốc gia, được xây dựng dựa trên thế mạnh của những nước tham gia như nguồn lực sẵn có, khuôn khổ pháp lý, quy mô thị trường và vị trí địa lý, GVC giúp việc sản xuất đạt chất lượng tối đa với chi phí thấp nhất có thể.
Các nước khác nhau sẽ khác nhau về các nguồn lực sẵn có như con người, nguyên liệu và máy móc. Chẳng hạn như ở Ấn Độ và Trung Quốc, hai quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng vẫn nghèo trong một thời gian dài do thiếu nguồn vốn, công nghệ, chất lượng và khung chính sách phù hợp. Ngược lại, các quốc gia ở châu Âu và Bắc Mỹ tiếp cận tốt hơn về nguồn vốn và công nghệ, chính sách công tốt hơn, khung thể chế chất lượng và được tiếp cận cơ sở hạ tầng truyền thông tốt hơn, nhưng lại có ít lao động hơn.
Tận dụng chi phí đầu vào thấp – ví dụ như chi phí đất đai và lao động tại các nước kém phát triển và chi phí sản xuất thấp – GVC được đổi mới bằng cách chia nhỏ quá trình sản xuất, cho phép chuyên môn hóa, sản xuất hàng loạt, sử dụng công nghệ cao, phân công lao động tốt hơn dẫn đến gia tăng hiệu quả bên trong và bên ngoài. Mô hình GVC phát triển nhanh trong những năm 1990 đến 2007, và giảm dần từ năm 2008 trở đi, cùng với khủng hoảng tài chính toàn cầu và dịch Covid-19.
Lợi ích của GVC có thể thấy được qua tăng trưởng kinh tế, bao gồm tăng GDP; tăng năng suất và việc làm; xóa đói giảm nghèo, tăng thu hút FDI ở các nước đang phát triển. Trong số các quốc gia đạt được tăng trưởng kinh tế đáng kể nhờ đẩy mạnh tham gia vào GVC – Bangladesh, Ethiopia, Mexico và Việt Nam được nhắc đến thường xuyên hơn. Ấn Độ và Trung Quốc cũng đạt mức tăng trưởng đáng kể nhờ chiếm được một phần GVC trong thương mại thế giới.
Theo Dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bangladesh tăng ít ỏi từ 2,416% trong năm 1988 lên 8,153% trong năm 2019. Xuất khẩu hàng may mặc được làm từ vải nhập khẩu tăng trung bình 18% hàng năm, kể từ năm 1988. Quốc gia này chiếm 7% kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc và giày dép của thế giới, chỉ đứng thứ 3, sau Trung Quốc và Việt Nam, và ngành dệt may cũng đóng góp vào 14% GDP của nước này và tạo ra việc làm cho 3,6 triệu công nhân với gần 55% trong số này là phụ nữ.
Tại Ethiopia, các công ty GVC có năng suất cao hơn. Các công ty này tham gia vào cả xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa được đánh giá có năng suất cao hơn 76% so với các doanh nghiệp không tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp không xuất khẩu có năng suất kém hơn 42%, và các công ty chỉ nhập khẩu có năng suất kém hơn 20%. Tại Việt Nam, xu hướng này đúng cho tất cả các công ty trong mọi lĩnh vực. “Thị trấn nút” (Button Town) của Trung Quốc là một ví dụ hấp dẫn khác về năng suất cao, nơi đây sản xuất 60% tổng số sản phẩm nút được tiêu thụ trên thế giới với chi phí thấp.
Giảm nghèo cũng là một thành tựu rõ ràng hơn đối với nền kinh tế có hoạt động thương mại được thúc đẩy bởi GVC. Tại Mexico, các khu vực có tỷ lệ người lao động làm việc cho các công ty quốc tế cao hơn đã giảm nghèo thành công hơn trong giai đoạn 1993 – 2013. Điều đó cũng đúng trong trường hợp của Việt Nam trong giai đoạn 2004 – 2014. Tại Kenya, nông dân làm vườn có thể nhận được thù lao tốt hơn sau khi ứng dụng các hợp đồng canh tác của người mua hàng toàn cầu tham gia thị trường. Theo Cục Thống kê Bangladesh, tỉ lệ hộ nghèo trên toàn quốc đã giảm từ 25,1% trong năm 2005 xuống còn 12,9% trong năm 2016.
Ấn Độ, một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới, sau thời gian tăng trưởng chậm ban đầu, đã nổi lên như một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Với GDP của đất nước trong năm 1960 đạt 37,03 tỉ USD; tăng lên 1,119 nghìn tỉ trong năm 2008, và 2,2875 nghìn tỉ trong năm 2019. Tốc độ tăng trưởng hàng năm cũng lên 8,8% trong năm 2010 từ mức 3,72% trong năm 1961 và 3,87% trong năm 2008. Trong giai đoạn 2003 – 2007 ghi nhận mức tăng trưởng là hơn 7,5%. Tăng trưởng trong năm 2019 đạt 5,024%. Thương mại chiếm 11,297% GDP trong năm 1960, tăng dần lên 53,368% trong năm 2008 và chiếm 55,624% trong năm 2019.
Ấn Độ có tốc độ tăng trưởng thương mại chậm hơn là do các hoạt động thương mại bị hạn chế bởi hệ thống kiểm soát, các quy định và cơ chế xin cho phổ biến ở nước này trước năm 1992. Trong giai đoạn từ 1992 – 2008, quốc gia này có những cải cách đáng kể về cơ cấu và chính sách. Bên cạnh tự do hóa các quy định về tài chính và kinh tế, hệ thống thuế cũng tiến bộ hơn với thuế thu nhập cá nhân và thuế doanh nghiệp hợp lý. Các loại thuế đánh vào sản xuất và thương mại – cả trong nước và ngoài nước cũng được đơn giản hóa và tạo điều kiện để thu hút tăng trưởng FDI và GVC. Ngay cả các hệ thống quản lý sau năm 1992 cũng tạo thuận lợi hơn cho thương mại và linh hoạt hơn với ứng dụng công nghệ thông tin.
GVC đưa các quốc gia đến gần hơn với các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Tuy nhiên, có những thách thức ảnh hưởng đến thành công như bất ổn chính trị, chính sách công không bảo đảm, các quy định về tài chính và lao động chưa được sửa đổi, khả năng đàm phán của các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển trong việc xây dựng mạng lưới và mối quan hệ bền vững; sự chênh lệch không gian với sự tập trung lớn GVC ở các khu vực thành thị và biên giới; mất cân bằng về giới tính trong quyền sở hữu, điều hành và quản lý doanh nghiệp là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Sự bất bình đẳng trong hệ thống thuế quốc tế cũng ảnh hưởng đến sự thành công đối với kinh doanh theo hướng GVC.
Để quá trình toàn cầu hóa có thể tồn tại, thế giới cần phải xem xét lại tiến trình này, đưa ra các chính sách và bộ quy chuẩn thuế mới, nỗ lực hơn nữa trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, tái cấu trúc các tổ chức tài chính quốc tế và các quy định thương mại để biến giấc mơ Made in World thành hiện thực.
Nguồn: Tribune India
Từ khóa: cải cách, thúc đẩy, chuỗi giá trị toàn cầu
Các tin khác
- GS.TS Trần Thọ Đạt: Kinh tế số trong khu vực FDI thấp đáng “ngạc nhiên” - 14/09/2020
- Các nước căng thẳng thương mại nhiều nhất với Trung Quốc cũng đồng thời là những đối tác thương mại giá trị nhất - 14/09/2020
- Đã có quy định gỗ hợp pháp, gỗ Việt "thẳng tiến" vào EU - 14/09/2020
- EU và Trung Quốc tăng cường hợp tác để đi đến ổn định và thịnh vượng - 14/09/2020
- Châu Âu với chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương - 11/09/2020






















