
Các tập đoàn đa quốc gia do chính phủ sở hữu, kiểm soát hoặc có mối liên hệ với chính phủ, đang chiếm khoảng 25% danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất toàn cầu do tạp chí Fortune xếp hạng hàng năm (Fortune Global 500). Đồng thời, áp lực cải cách các quy tắc thương mại toàn cầu đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang gia tăng. Nhưng các rạn nứt địa chính trị trong hệ thống thương mại toàn cầu có thể cản trở tiến trình này.
Công cuộc thúc đẩy cải cách DNNN đã có được một chút kết quả bằng một thông cáo mới được công bố vào tháng 10 năm 2018 bởi Business 20 (B20), một nhóm các doanh nghiệp tư nhân không chính thức của G20. Nhóm này ủng hộ biện pháp hạn chế và/hoặc hủy bỏ các chính sách đối xử ưu đãi dành cho DNNN. Để bình đẳng sân chơi giữa doanh nghiệp tư nhân và DNNN, B20 khuyến nghị các tổ chức thương mại đa phương nên cấm các hoạt động từ trợ giá cho đến xóa nợ, và các hình thức hỗ trợ phi thương mại khác đang làm bóp méo thị trường.
Các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) liên quan đến những DNNN đã cấm hình thức hỗ trợ phi thương mại. WTO cũng đã quy định phải thông báo về tình hình DNNN trong từng nước, các DNNN này đang nắm giữ những ngành công nghiệp nào và được đối xử ra sao, có đang được nhận được hỗ trợ phi thương mại hay không. Nhưng trên thực tế, các nước thường chậm trễ trong việc thông báo về WTO.
Lời kêu gọi khẩn thiết của B20 về các quy tắc kiểm soát DNNN chặt chẽ hơn đã khuếch trương mong muốn thu hẹp khoảng trống pháp lý này của một số quốc gia. Ấn Độ ủng hộ kêu gọi của Nhật Bản về việc thắt chặt các quy tắc dành cho DNNN trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Và vào tháng 9 năm 2018, cuộc họp ba bên của các Bộ trưởng Thương mại của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu đã đề xuất các biện pháp báo cáo minh bạch hơn về DNNN và cắt giảm lợi ích của DNNN đang gây méo mó thị trường.
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cũng hướng đến điều tương tự, nhằm mục tiêu chuẩn hóa cao hơn trong việc xử lý DNNN vi phạm. So với WTO, CPTPP xác định DNNN thông qua các tiêu chí hẹp hơn, chẳng hạn như điều kiện chính phủ nắm quyền sở hữu/kiểm soát hơn 50% cổ phần. Quy tắc CPTPP chỉ áp dụng cho các DNNN kiếm được hơn 200 triệu quyền rút vốn đặc biệt (khoảng 276 triệu USD) và bao gồm lĩnh vực thương mại hàng hóa và dịch vụ. Mặc dù CPTPP hạn chế các hoạt động hỗ trợ phi thương mại đối với các hoạt động quốc tế và sản xuất hàng hóa của DNNN, nhưng CPTPP cũng cho phép miễn trừ áp dụng đối với các trường hợp khẩn cấp kinh tế và đối với hàng hóa công.
Các quy định nghiêm ngặt về DNNN có thể làm giảm sự phát triển ở nhiều nền kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, nơi DNNN đóng vai trò quyết định sự tăng trưởng của khu vực. Câu chuyện tăng trưởng ở Đông Á sẽ trông rất khác khi các hoạt động hỗ trợ phi thương mại bị cấm đoán. Các DNNN tồn tại hầu như ở khắp mọi nơi, từ ngành dầu cọ của Malaysia sang ngành thép của Hàn Quốc.
Việc xử lý DNNN sâu rộng hơn và nghiêm khắc hơn cũng có thể ảnh hưởng đến quan hệ đối tác phát triển quốc tế, tùy thuộc vào cách thức hỗ trợ phi thương mại bị cắt giảm và miễn trừ hoạt động của DNNN ở nước ngoài. Theo American Enterprise Institute, DNNN chiếm gần 70% trong tổng vốn đầu tư và chiếm 95% tổng hoạt động xây dựng Sáng kiến Vành đai – Con đường của Trung Quốc (BRI). Chỉ cần một vài DNNN không thể hoạt động nếu thiếu đi sự hỗ trợ phi thương mại, số phận của một vài dự án hạ tầng trong Sáng kiến BRI có thể chưa biết đi đâu về đâu.
Cuối cùng, muốn điều chỉnh quy tắc đa phương, phải tìm ra điểm cân bằng mới giữa mục tiêu đáp ứng nhu cầu phát triển hạ tầng, với mục tiêu giảm trở ngại thị trường, cho dù các trở ngại đó đến từ doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân. Bằng không, nỗ lực tăng cường hệ thống đa phương (đến từ B20 hoặc nơi nào khác) lại chỉ làm xói mòn thêm hệ thống đó.
Một số thách thức đang làm cho triển vọng đạt được điểm cân bằng thêm mờ mịt.
Thứ nhất, rất khó để xây dựng sự đồng thuận giữa các thành viên và những nhóm lợi ích đa dạng trong WTO. Ví dụ, Trung Quốc vẫn quả quyết cho rằng nước này đã tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp tư nhân và nhà nước.
Một số nước đang phát triển đã ký kết các quy định cải cách DNNN, như các thành viên CPTPP Việt Nam, Malaysia, Brunei và Singapore. Tuy nhiên, việc cắt xén đáng kể các quy định về DNNN trong các hiệp định thương mại kiểu trên, hoặc thậm chí là hoàn toàn không có các quy định về DNNN trong nhiều hiệp định thương mại tự do khác, cho thấy rằng các nước đang phát triển nhìn chung không thích các quy tắc quá chặt chẽ trong vấn đề DNNN, ngay cả khi họ không công khai phản đối. Trong khi đó, Hoa Kỳ thẳng thừng phàn nàn về quy tắc miễn trừ dành cho các nước phát triển của WTO và việc các nước đang phát triển đã lạm dụng quy tắc miễn trừ này.
Thứ hai, các căng thẳng thương mại, bao gồm cả những tranh cãi về DNNN, nằm trong một bối cảnh lớn hơn – đó là sự cạnh tranh về địa chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc. Đang có một sự bất đồng dai dẳng về việc mô hình kinh tế nào - nhà nước kiểm soát hay chủ nghĩa tự do – sẽ thiết lập nền tảng cho trật tự thương mại dựa trên quy tắc.
Tuy nhiên, mặc dù tiến trình đa phương có thể bị đình trệ, các quy định của DNNN trong các hiệp định thương mại đa phương và khu vực vẫn có thể được thắt chặt. Khi đó, các ảnh hưởng tiếp theo lên Trung Quốc có thể là gián tiếp. Việc sử dụng ‘điều khoản thuốc độc’ – không khuyến khích các nước thành viên ký kết thỏa thuận thương mại với các nền kinh tế phi thị trường như Trung Quốc - trong Thỏa thuận Hoa Kỳ - Mexico – Canada (USMCA) và các hiệp định thương mại khác của Mỹ trong tương lai có thể gây áp lực lên Bắc Kinh, khiến nước này cải cách sâu rộng hơn nhằm tránh bị cô lập với các đối tác thương mại.
Cuối cùng, cảm thức của Trump về mất mát thực tế có thể làm cho quá trình thỏa hiệp trở nên khó khăn, trong khi áp lực bất định từ bên ngoài có thể làm cho phe cứng rắn ở Trung Quốc phản đối những nỗ lực cải cách hợp lệ. Cân bằng các quy định về DNNN có thể mang lại lợi ích cho việc phát triển và cải thiện thị trường. Nhưng việc thay đổi các quy tắc thương mại mà không giải quyết những căng thẳng địa chính trị cơ bản sẽ không đặt nền tảng cho một cơ chế thương mại toàn cầu bền vững và dung hợp, hoặc làm cho các nước ít bị tổn thương hơn với quyền lực chính trị.
Các cuộc đối thoại giữa một số nền kinh tế lớn nhất của hệ thống giao dịch đa phương là quan trọng đối với tất cả các bên liên quan. Và việc đạt được một sự đồng thuận thương mại mới thậm chí sẽ còn quan trọng hơn.
Amalina Anuar là một nhà phân tích thuộc Trung tâm nghiên cứu chủ nghĩa đa phương tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam (RSIS), Đại học Kỹ thuật Nanyang, Singapore.
Nguồn: RSIS
Từ khóa: Doanh nghiệp nhà nước, cải cách, G20
Các tin khác
- Bất chấp cuộc chiến thương mại của Mỹ, Châu Âu vẫn tiếp tục ký kết các thỏa thuận giao thương tự do ở Châu Á - 24/11/2018
- Credit Suisse: Việt Nam có thể đạt vị trí cao hơn trong chuỗi sản xuất châu Á, tuy nhiên việc khu vực này phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu là một nguy cơ đối với tăng trưởng - 24/11/2018
- Hoa Kỳ đang chạy đua với các đối thủ trong tiến trình toàn cầu hóa - 24/11/2018
- Nghiên cứu cho thấy chính sách ưu đãi thuế là chìa khóa thúc đẩy FDI vào ASEAN - 22/11/2018
- Nâng cao năng lực cạnh tranh trong FTA - 21/11/2018






















