JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếThương mại tự do cần sự nuôi dưỡng – và những bài học khác từ lịch sử

Thương mại tự do cần sự nuôi dưỡng – và những bài học khác từ lịch sử

SophusReinertDanteRoscini

Thương mi tự do toàn cu không phải là trt tự vn có ca tự nhiên, do vy, nó cđược chăm chút và giữ gìn hết sc cẩn thận. Giáo sư Sophus Reinert và giáo sư Dante Roscini ca trường Kinh doanh Harvard đã cùng thảo lun về tiến trình phát trin của thương mi và những bài hc rút ra từ lch s.

Câu hỏi: Những mẫu hình nào trong lịch sử có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những gì mà thế giới đang đối mặt hiện nay?

Sophus Reinert: Đối với nhiều người, toàn cầu hóa là một xu hướng không thể tránh khỏi, một thứ cần thiết phải trở nên phổ quát hơn theo thời gian, và là một nhân tố quan trọng trong một thế giới kết nối chặt chẽ về kinh tế; tuy vậy, lịch sử lại cho thấy điều này không hoàn toàn đúng. Nhiều thời điểm, toàn cầu hóa đã rơi vào thoái trào. Từ năm 1850 đến năm 1914, cuộc cách mạng khoa học công nghệ bùng nổ: với sự xuất hiện của điện tín, kết nối liên lạc giữa London và New Zealand có thể được khởi động chỉ trong vòng vài giây; sự phổ biến của tủ lạnh, cùng thời điểm, cho phép người dùng tại London cất trữ bơ sản xuất từ New Zealand. Bùng nổ thương mại và dòng chảy tài chính đã thiết lập một trật tự thế giới tương tự phần lớn những gì chúng ta được chứng kiến hiện nay.

Tuy nhiên, vào những năm đầu thập niên 20, tình trạng bất bình đẳng xã hội và cạnh tranh về lương bổng có dấu hiệu gia tăng, giữa bối cảnh cạnh tranh quốc tế diễn ra gay gắt. Cuối cùng, một phát súng tại Sarajevo giết chết thái tử Áo - Archduke Ferdinand và là nguồn cơn của Thế chiến thứ I, và hệ thống thương mại sụp đổ hoàn toàn. Sau đó, nền kinh tế thế giới đã không thể trở lại với mức độ tự do hóa vốn như trước, mãi cho đến thập niên 1990. Thương mại toàn cầu không phải là trật tự vốn có của tự nhiên – tức có thể tự sinh tồn. Toàn cầu hóa là một dự án, mà dự án thì cần được nuôi sống.

Dante Roscini: Thương mại đã trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử, trong nhiều thế kỷ, chủ nghĩa trọng thương-quan điểm cho rằng một quốc gia chỉ được lợi thế về giao thương khi khiến đất nước đối tác bị thiệt hại-đã thống trị ở châu Âu, và là nguyên nhân của nhiều cuộc chiến tranh. Toàn cầu hóa tiếp tục phát triển trong giai đoạn đầu thập niên 1900 cho đến khi diễn ra Cuộc Đại suy thoái, thời điểm các nước quay sang đóng cửa nền kinh tế. Luật Bảo hộ thuế quan Smoot-Hawley của Mỹ ban hành năm 1930 đã khơi mào cho các hành động áp thuế trả đũa trên khắp thế giới, đẩy thương mại vào vòng xoáy suy giảm, qua đó khiến khủng hoảng ngày càng trầm trọng.

Sau chiến tranh Thế giới thứ II, thế giới giải quyết sự thiếu vắng một thể chế đa phương về vấn đề về thương mại bằng việc thông qua GATT-Thỏa thuận chung về thuế quan và thương mại-nền tảng của WTO sau này.

Reiner: Một điều chúng ta cần nhớ chính là lợi ích từ thương mại không chia đều cho tất cả cá nhân, tổ chức. Rõ ràng, thương mại toàn cầu trong vài thập kỷ qua đã tạo ra sự thịnh vượng nhiều hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đây trong lịch sử loài người. Tuy vậy, nếu nhìn vào tỷ lệ lợi ích mà nhóm tầng lớp trung lưu tại châu Á, Ấn Độ và Trung Quốc thu được so với những gì mà tầng lớp trung lưu tại các nước công nghiệp phát triển thụ hưởng, chúng ta có thể đoán trước được các cuộc nổi dậy. Ổn định là yếu tố rất quan trọng đối với tiến trình toàn cầu hóa, đó là lý do chúng ta cần một lần nữa cân nhắc lại các hệ quả chính trị từ các chính sách phân bổ lợi ích.

Roscini: Chắc chắn là, về tổng thể, toàn cầu hóa là có lợi. Tuy nhiên, câu hỏi là ai sẽ hưởng lợi? và ai sẽ thiệt hại trong tiến trình này? Một số ngành công nghiệp hoặc một số địa phương sẽ chịu tác động bất lợi từ thương mại tự do, từ đó, dẫn đến nhu cầu được bảo hộ, thông qua các rào cản thương mại. Trận chiến cá da trơn là một minh chứng cho tình huống này; cuộc chiến diễn ra một bên là nông dân nghèo sống dựa vào nghề nuôi cá trong lưu vực Mississippi với những người cùng hoàn cảnh với họ ở bên kia bờ Thái Bình Dương tại lưu vực Đồng bằng Mekong. Các nhà sản xuất trong ngành công nghiệp cá da trơn Hoa Kỳ cảm thấy bị đe dọa từ sản phẩm giá rẻ từ Việt Nam, hối thúc nhiều nghị sĩ bang kiến nghị đến Washington yêu cầu dựng rào cản nhập khẩu. Thuế đánh lên sản phẩm cá từ Việt Nam sẽ giúp phân tán lợi ích giữa các nhóm chủ thể liên quan, gồm cả người tiêu dùng-đối tượng sẽ phải trả cao hơn cho món hàng mình mua.

Vậy, các cuộc chiến thương mại thường sẽ được giải quyết như thế nào? Và tại sao rất khó để đạt được một giải pháp chung cho tất cả bên liên quan?

Reinert: Rất nhiều nghiên cứu của tôi tập trung vào thời kỳ trước đây khi chiến tranh thương mại đúng nghĩa là một cuộc chiến-giai đoạn mà nước Anh dùng vũ lực buộc Hà Lan phải nhường bước trong giao lưu thương mại qua đường hàng hải. Chúng ta không còn trong thời kỳ vừa nêu, tuy vậy, đây cũng là bài học nhắc nhở về cái giá phải trả lớn thế nào khi chiến tranh thương mại leo thang.

Roscini: Thường thì các bên sẽ đạt được một thỏa thuận, lý tưởng nhất đã trên cơ sở các quy tắc của WTO. Nhưng các cuộc chiến thương mại ngày nay lại có hệ quả khó lường, từ đó việc tìm kiếm giải pháp sẽ khó khăn hơn. Các chuỗi cung ứng toàn cầu ngày nay hết sức phức tạp. Khi một chiếc điện thoại được thiết kế tại Mỹ và lắp ráp tại Trung Quốc với linh kiện đến từ 30 quốc gia khác, vậy xuất xứ của chiếc điện thoại đó là ở đâu? Khi cố kiểm soát thương mại hàng hóa đối với một số sản phẩm nhất định bằng thuế và các rào cản kỹ thuật, chúng ta sẽ gây tác động đến những yếu tố khác, và với hệ quả khôn lường.

Reinert: Trong suốt thiên niên kỷ qua, phần lớn các cuộc xung đột thương mại chủ yếu liên quan đến đối tượng là nguyên liệu hoặc thành phẩm; thuế đánh lên ô tô chỉ đơn thuần là nhằm chặn đứng hoạt động nhập khẩu ô tô nguyên chiếc. Vậy nhưng, ngày nay, phần lớn sản phẩm thương mại là những linh kiện, cấu phần trung gian, được lưu chuyển xuyên biên giới. Do vậy, về mặt chính trị, việc dựng hàng rào thuế quan có thể hiểu được, nhưng nếu xét về mục đích và hệ quả phát sinh, một kết luận rõ ràng là không khả thi. Vấn đề này cần một giải pháp khác so với những phương cách truyền thống.

Chúng ta đang sống trong một thế giới trong đó các quốc gia độc lập về mặt chính trị nhưng liên kết với nhau về mặt kinh tế-thực tế này đẽ tồn tại từ thời kỳ Adam Smith. Đến một lúc nào đó, chúng ta phải đối mặt với những thách thức như đã nêu. Mỗi quốc gia không thể ngồi yên để mong chờ nền kinh tế thế giới phát triển hơn, giàu có hơn và yên bình hơn. Hệ thống thương mại toàn cầu cần được nuôi dưỡng. Tự do thương mại không tự nhiên mà có-đó là điều chúng ta từng học được trong lịch sử.

Nguồn: Harvard Business School - LA

Từ khóa: thương mại tự do, WTO, thuế quan, chiến tranh thương mại

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008762688
Go to top