JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếCác nước đang phát triển phải đối phó ra sao với chiến tranh thương mại

Các nước đang phát triển phải đối phó ra sao với chiến tranh thương mại

cangbien3005

Nếu căng thẳng thương mại hiện nay giữa Mỹ và các đối tác thương mại chính của nước này, đặc biệt là Trung Quốc, leo thang thành một cuộc chiến thương mại tổng lực, vậy thì các quốc gia đang phát triển nên làm những gì? Trong bài nghiên cứu gần đây, Shanta Devarajan và các cộng sự đã cố đi tìm lời giải cho câu hỏi trên, bằng việc sử dụng một mô hình cân bằng tổng thể toàn cầu, tái tạo lại việc tăng thuế của Mỹ (cao bằng mức thuế Smoot-Hawley thập niên 1930) và các biện pháp trả đũa của Trung Quốc, EU, Canada, Mexico và Nhật. Sau đó, nhóm tác giả nghiên cứu bốn lựa chọn hợp lý cho các quốc gia đang phát triển (ngoại trừ Trung Quốc và Mexico):

-          Lựa chọn 1: Tham gia cuộc chiến

-          Lựa chọn 2: Không làm gì cả

-          Lựa chọn 3: Ký các hiệp định thương mại khu vực (RTAs) với tất cả các quốc gia ngoại trừ Mỹ

-          Lựa chọn 4: “Đưa má còn lại ra” – là sự kết hợp giữa lựa chọn thứ 3 và việc xóa bỏ toàn bộ thuế quan cho hàng nhập khẩu từ Mỹ.

* “Đưa má còn lại ra”, tiếng Anh là turn the other cheek, là câu dạy trong Kinh thánh, ý nói nếu một người tát ta vào má trái thì ta hãy chìa má phải ra cho họ tát nốt, chứ không nên hành động đáp trả lại.

Trước khi thảo luận về các kết quả, chúng ta cùng tìm hiểu qua về các giả định của mô hình. Đầu tiên, các mức thuế cao (gần 30%) của Mỹ mà mô hình này giả lập thì phù hợp với các mức thuế mà Mỹ áp dụng từ đầu năm nay lên nhôm, thép và các sản phẩm nhập khẩu khác từ Trung Quốc. Các mức thuế này tương tự với “thuế suất ở cột Hai trong biểu thuế Mỹ” hiện đang được áp dụng cho Cuba và Bắc Triều Tiên (biểu thuế của Hoa Kỳ chia làm hai cột, cột Một là thuế suất tối huệ quốc MFN, và cột Hai là thuế suất áp dụng cho các nước không được hưởng quy chế MFN). Các tác giả giả định rằng Mỹ áp thuế cột Hai cho tất cả các nước. Và các nước lớn trả đũa lại bằng cách hạn chế nhập khẩu từ Mỹ. Điều này tạo ra cơ hội cho các nước đang phát triển xuất khẩu những mặt hàng mà trước đây các nước lớn phải nhập khẩu từ Mỹ. Thứ hai, lựa chọn 3 (các nước phát triển ký kết các RTAs với các quốc gia khác ngoài Mỹ) bắt nguồn từ thực tế rằng số lượng các RTAs đang tăng lên nhanh chóng kể từ năm 2017 đến nay, gồm có các RTAs giữa các nước trong nhóm G20, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện và Tiến bộ (CPTPP), và Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do Lục địa châu Phi (CFTA). Và cuối cùng, mô hình cân bằng tổng thể đa ngành, đa quốc gia này chỉ đo lường các lợi ích và thiệt hại tĩnh từ cuộc chiến thương mại và phản ứng của các nước đang phát triển. Mô hình không nghiên cứu tác động từ cuộc chiến thương mại lên vấn đề đầu tư (do làm tăng độ bất ổn cho thị trường) và vì vậy, không tính đến tác động từ cuộc chiến lên tăng trưởng dài hạn của các quốc gia. Đồng thời, bởi vì hầu hết các nước đang phát triển đều là những nền kinh tế nhỏ và mở cửa, các tác giả giả định rằng các nước đang phát triển sẽ không có hành động trả đũa.

Kết luận từ mô hình: trong số 4 lựa chọn được đặt ra cho các quốc gia đang phát triển, lựa chọn đem lại kết quả tệ hại nhất là lựa chọn 1 (tham chiến). Các mức thuế cao sẽ chỉ làm cho những nước đang phát triển khó xuất khẩu hơn và khó bù đắp được thiệt hại từ cuộc chiến. Nếu tham chiến, các nước đang phát triển sẽ bị thiệt hại GDP là 0.2% và xuất khẩu giảm 0.3%. Các chi phí này gấp đôi so với kịch bản “không làm gì cả”. Ngược lại, nếu ký kết RTAs với các nước còn lại ngoài Mỹ - lựa chọn 3, các nước đang phát triển có thể thu được lợi ích đáng kể và giảm bớt thiệt hại của cuộc chiến: GDP có thể tăng 0.4% và xuất khẩu tăng 1.7% so với kịch bản không tham chiến. Hơn nữa, nếu các nước đang phát triển còn tự nguyện xóa bỏ thuế quan cho hàng nhập khẩu từ Mỹ, tức là lựa chọn 4, lợi ích thu được thậm chí còn cao hơn, đặc biệt là đối với các nước Mỹ Latin và các nước vùng Caribe – những quốc gia có liên hệ mật thiết với thị trường Mỹ. Hai lựa chọn cuối (3 và 4) cho phép các quốc gia đang phát triển khai thác được cơ hội thị trường từ việc Mỹ giảm xuất khẩu sang các nước đối tác lớn.

picture1611-01

Tác động của 4 lựa chọn đến GDP của các quốc gia đang phát triển

Lưu ý: Kết quả so sánh tĩnh. GDP trong mô hình là GDP thực. Trong tất cả các kịch bản, mô hình đều giả thiết tồn tại một tranh chấp thương mại leo thang giữa một bên là Mỹ, và bên còn lại là Trung Quốc, Mexico và các quốc gia có thu nhập cao (những khu vực có liên quan đến tranh chấp thương mại). Các nước đang phát triển trong mô hình này loại trừ Trung Quốc và Mexico.

Nguồn: Bài nghiên cứu “Bài toán cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Biện pháp đáp trả của các quốc gia đang phát triển trước các tranh chấp thương mại”, tác giả Devarajan et al. (2018).

Mặc dù các kết luận trên chỉ là kết quả từ một mô hình, nhưng đưa ra được một hướng đi nữa trong chính sách, đặt nền móng cho các bước cải tiến về sau và thôi thúc các mô hình khác. Điểm mấu chốt là, các cuộc chiến thương mại giữa nước lớn với nhau tạo ra cơ hội cho các nước không tham chiến tăng xuất khẩu sang các nước tham chiến. Chính sách đáp trả tốt nhất là, tận dụng những cơ hội được tạo ra này.

Không cần phải nói, không phải nước nào cũng có thể chấp nhận lựa chọn 4, vì liên quan đến yếu tố chính trị. Lấy ví dụ, trong thực tế, các nước đang phát triển có thể chịu sức ép chính trị lớn buộc họ phải trả đũa và tăng thuế chống lại Mỹ. Bài nghiên cứu cho thấy, khuất phục trước các áp lực trên sẽ có chi phí của nó, cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp, vì đã mất đi cơ hội gặt hái lợi ích từ một chiến lược hợp tác.

Nguồn: Brookings

Từ khóa: mô hình, lựa chọn, các nước đang phát triển, đối phó, chiến tranh thương mại

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008758163
Go to top