
Người ta thường nói, cơ hội chỉ đến 1 lần. Vì vậy, Thứ trưởng Thương mại Philippines Ceferino S. Rodolfo Jr. muốn nắm bắt thời cơ này để đưa hàng hóa vào thị trường Hoa Kỳ - đối tác thương mại lớn thứ hai thế giới.
Sản phẩm ô tô Mỹ
Ông Forbes – cố vấn cao cấp của Amcham Philippines - tin rằng người dân Philippine sẽ có nhiều lựa chọn tiêu dùng hơn khi hàng hóa miễn thuế từ Mỹ tràn vào thị trường. Hai mặt hàng mà Mỹ dự kiến mang vào Philippine với số lượng lớn là ô tô và mô tô.
Washington từ lâu đã không hài lòng với mức thuế mà Manila đánh trên xe nguyên chiếc nhập khẩu từ Mỹ, trong khi xe từ Nhật và ASEAN lại không chịu mức thuế tương tự.
Báo cáo năm 2018 của USTR cho biết, Philippines áp thuế cao lên xe ô tô và mô tô nguyên chiếc, trong đó, đánh thuế 30% lên xe ô tô con, 20-30% lên xe chở hàng, và 15-25% lên xe chở khách, tùy theo tải trọng. Còn xe từ ASEAN và Nhật Bản được hưởng mức thuế ưu đãi theo Hiệp định thương mại tự do ASEAN và Hiệp định Đối tác Kinh tế Nhật Bản – Philippines. Chưa kể, ưu đãi thuế trên còn áp dụng đối với việc nhập khẩu thiết bị sản xuất, phụ tùng thay thế và bổ sung của các nhà sản xuất mô tô và các doanh nghiệp khác có đăng ký với Cục Đầu tư.
Ông Forbes cho rằng, một thỏa thuận thương mại với Mỹ sẽ cho phép người dân Philippines mua được các dòng xe nổi tiếng của Mỹ với mức giá hợp lý hơn, sẽ không chỉ là 3 ông lớn – Ford, Chrysler và General Motors – mà còn có thể là BMW và Mercedes được sản xuất tại Mỹ, và xe mô tô nổi tiếng của Mỹ Harley-Davidson.
Xuất khẩu dệt may và da giày của Philippines vào Mỹ sẽ gia tăng nếu như mức thuế 2 con số như hiện nay được dỡ bỏ, đây sẽ là tin vui đối với các hãng giày nội địa và khiến cho Philippines thu hút được nhiều tiền đầu tư hơn.
Quần áo và vải là nhóm hàng đứng thứ 4 và thứ 5 trong số các mặt hàng bị đánh thuế cao nhất tại Mỹ, theo số liệu từ WTO. Năm ngoái, Mỹ áp thuế MFN bình quân 11.6% đối với quần áo và 7.9% đối với vải dệt.
Cắt giảm chi phí
Ông Manzano – Cựu ủy viên thuế quan Philippines cảnh báo, Philippines sẽ phải cắt giảm thuế nhiều hơn Mỹ trong đàm phán FTA. Vì mức thuế của Mỹ nhìn chung là thấp (từ 0% - 5%), nên Philippine cần phải nhượng bộ nhiều hơn.
Số liệu từ Báo cáo Thuế quan năm 2018 của WTO cho thấy, Manila vẫn có 5 nhóm sản phẩm có mức thuế bình quân là 2 con số vào năm ngoái. Sản phẩm động vật bị đánh thuế MFN bình quân là 20.5%, đường và bánh kẹo 18.9%, cà phê và trà 15.7%, quần áo 14.8%, ngũ cốc và chế phẩm từ ngũ cốc 10.3%.
Ngược lại, Washington có 4 nhóm mặt hàng nhập khẩu bị đánh thuế cao, gồm nước giải khát và thuốc lá (18.6%), sản phẩm từ sữa (18.3%), đường và bánh kẹo (15.7%), và quần áo (11.6%). Tuy nhiên, Mỹ áp thuế thấp trên 16 – 22 nhóm sản phẩm, trong khi Philippine áp mức thuế thấp tương tự cho 9 nhóm hàng hóa.
Yếu tố nội địa
JOSE Enrique A. Africa, giám đốc điều hành Quỹ phi chính phủ IBON, cho rằng giảm thuế sẽ không nhất thiết làm giảm giá bán hàng hóa trên thị trường, vì còn bị tác động bởi các yếu tố trong nước.
Tuy nhiên, điều chắc chắn là khu vực nông nghiệp của Philippines sẽ chịu sự cạnh tranh khốc liệt hơn, nếu không muốn nói là bất công hơn, nếu như chính phủ Philippines chấp thuận giảm thuế nhập khẩu cho nông sản Mỹ. Ông Africa nói thêm, điều này phơi bày thực tế là chính phủ Philippines phớt lờ lợi ích của người nông dân.
Nhập khẩu các loại nông sản từ Mỹ mà trong nước không có mặt hàng thay thế, như lúa mì hay đậu nành, thì không có vấn đề gì. Tuy nhiên, câu chuyện lại hoàn toàn khác đối với nhập khẩu gạo, bắp, thịt gà và thịt heo, các sản phẩm đều có thể được sản xuất trong nước. Theo ông Africa, “giảm thuế nhập khẩu cho các sản phẩm nông nghiệp vốn đang được Mỹ trợ cấp nhiều về mặt lý thuyết sẽ làm giảm giá tiêu dùng”.
“Nhưng điều trên có thật sự xảy ra hay không còn phụ thuộc vào phản ứng của thương nhân trong nước”, ông Africa giải thích thêm, “Vấn đề quan trọng hơn là sự lơ là bấy lâu nay của chính phủ Philippines đối với ngành nông nghiệp, khi vừa bảo hộ thương mại vừa hỗ trợ sản xuất, làm cho ngành này thui chột đi năng lực cạnh tranh”.
Các vấn đề Mỹ phản đối
Mỹ từ lâu đã luôn thúc đẩy Philippines phải mở cửa ngành nông nghiệp. Trong báo cáo của USTR ở trên, Cơ quan này của Mỹ đã chỉ trích các biện pháp thuế quan và phi thuế quan của Philippines, như các quy định về quy trình xử lý thịt và thông quan nhập khẩu.
Báo cáo cho biết “Philippine duy trì hệ thống hai tầng đối với thịt giết mổ tươi và thịt đông lạnh được bày bán trên thị trường trong nước. Theo quy định này, Philippine đặt ra nhiều quy định gây khó dễ đối với thịt đông lạnh, sản phẩm chủ yếu được nhập khẩu, hơn là đối với thịt giết mổ sống, sản phẩm vốn chỉ được nuôi trong nước”.
Cũng qua báo cáo, Mỹ tiếp tục thúc giục chính phủ Philippines xóa bỏ các điều kiện kinh doanh đang mang tính phân biệt giữa thịt tươi sống và thịt đông lạnh.
USTR cũng phản đối việc Bộ Nông nghiệp Philippine yêu cầu nhà nhập khẩu phải có giấy chứng nhận vệ sinh động vật và kiểm dịch thực vật trước khi nhập khẩu, và trách nhiệm này cuối cùng được đẩy lại cho nhà xuất khẩu. “Các quy định này chỉ làm tăng thêm chi phí và thời gian cho nhà xuất khẩu, và cản trở chính các mặt hàng Philippines không xuất khẩu được phải tái nhập trở lại trong nước”.
Đồng tình với ông Africa, ông Rene E. Ofreneo - Chuyên gia về quan hệ lao động của Đại học Philippines cho biết một FTA với Mỹ có thể báo hiệu điều tồi tệ nhất cho người nông dân và người chăn nuôi gia súc của Philippine.
Ông Ofreneo nói với tờ BusinessMirror rằng “Tôi nghĩ là một FTA sẽ làm trầm trọng thêm các vấn đề trong ngành nông nghiệp Philippines, đặc biệt là cho phân khúc chăn nuôi gia súc và trồng bắp”.
Mặt khác, ông Manzano nghi ngờ liệu Philippines có quyền – và có dám – yêu cầu Mỹ giảm trợ cấp nông nghiệp trong đàm phán FTA hay không.
“Tôi không chắc liệu Philippines có thể yêu cầu Mỹ việc đó hay không, còn tại WTO, Philippines có thể làm việc đó vì có thêm tiếng nói của nhiều nước khác cùng yêu cầu Mỹ phải hạn chế trợ cấp”.
Vậy thì, cách làm tốt nhất là kéo dài được “lộ trình thực thi” để ngành nông nghiệp trong nước có thêm thời gian chuẩn bị cho việc cải thiện năng suất cũng như năng lực cạnh tranh, có thể dưới hình thức giảm thuế dần đối với sản phẩm nông nghiệp và động vật.
Thậm chí ngay cả khi FTA bao gồm ưu đãi về đầu tư, không một tập đoàn nào của Mỹ quan tâm đầu tư vào ngành nông nghiệp ở Philippines, điều họ quan tâm duy nhất đó là xuất khẩu thịt sản xuất tại Mỹ.
Viễn cảnh công nghiệp hóa
Tuy nhiên, đối với ông Africa, bài toán làm thế nào để ngành nông nghiệp trong nước có thể bắt kịp với nông sản nhập khẩu của Mỹ chỉ làm lộ rõ một vấn đề nội tại hiển nhiên khác. Đó là chính phủ phải có chiến lược phát triển kinh tế quốc gia để cải thiện năng suất và tính hiệu quả cho người nông dân và nhà sản xuất trước khi ký kết FTA với các nước lớn.
“Có được một thỏa thuận tốt với nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ mở ra nhiều cơ hội tuyệt vời. Xuất khẩu tăng giúp tạo ra việc làm, đầu tư nước ngoài tăng tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp trong nước và giúp Philippines đón nhận công nghệ để gia tăng năng suất”, ông Africa đánh giá.
Tuy nhiên, ông lại nói “Vấn đề là, chúng ta lại thiếu điều kiện tiên quyết để biến cơ hội thành hiện thực. Việc thiếu hỗ trợ từ chính phủ và giữa lúc Philippines đang mới bắt đầu tiến trình tự do hóa, ngành nông nghiệp trong nước và các doanh nghiệp sản xuất của Philippines còn non yếu, vì vậy, khả năng mở rộng xuất khẩu còn hạn chế”.
Ông Africa cho rằng thật vô nghĩa khi thảo luận về lợi ích xuất khẩu đạt được từ thỏa thuận thương mại song phương với Washington khi mà Manila chưa có năng lực xuất khẩu, cụ thể là, nước này đang có khoảng cách khá lớn giữa kim ngạch nhập khẩu (96.09 tỷ USD) và xuất khẩu (68.71 tỷ USD) vào năm ngoái.
“Trước khi đàm phán, Philippines cần lên kế hoạch cho tiến trình công nghiệp hóa của quốc gia. Có nghĩa là, phải phát triển các ngành công nghiệp nào giúp phát triển đất nước mà dùng đến nhiều lao động cũng như tài nguyên thiên nhiên trong nước, và không bị lúng túng trước sự cạnh tranh của các công ty nước ngoài trong và ngoài nước”, ông Africa kết luận.
Bước đi thận trọng
Manzano cảnh báo ngài Thứ trưởng và đội ngũ đàm phán rằng, cần thận trọng trong đàm phán FTA với chính phủ Mỹ, đặc biệt là dưới sự lèo lái của ông Trump. Ông Manzano tin rằng, Mỹ là nước mạnh hơn nên chắc chắn sẽ gây sức ép lên Philippines trên bàn đàm phán.
“Ông Trump thích song phương bởi vì trong đàm phán song phương, Mỹ có thể sử dùng đến lợi thế quy mô để buộc nước còn lại nhượng bộ, đơn giản là vì thị trường của họ rộng lớn hơn chúng ta”, ông Manzano lập luận.
Cuộc chiến thương mại cũng có thể là nguyên nhân tại sao Washington đang rà soát lại khu vực châu Á để tìm ra các nền kinh tế tiềm năng mà Mỹ có thể đặt một vài cơ ngơi sản xuất tại đó – một bước đi có thể làm lợi cho Mỹ hoặc Trung Quốc.
“Nếu đúng như vậy, vậy thì Trung Quốc có thể đầu tư vào Philippines, sản xuất sản phẩm ở đây và xuất khẩu vào Mỹ, bởi vì Philippines có FTA với Mỹ”. Vị chuyên gia này cũng cho biết thêm “Còn có một chiều hướng khác”, đó là “các doanh nghiệp Mỹ có thể đến sản xuất tại Philippines và xuất khẩu vào Trung Quốc”, bởi vì Philippines nằm trong Khu vực Thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc.
Không sợ hãi
“Chúng ta không sợ nước Mỹ”, ông Rodolfo mỉm cười tuyên bố. “Chúng ta đang hợp tác với Mỹ, và những gì chúng ta đang làm là cân bằng lại sân chơi với họ, bởi vì mức thuế nhập khẩu của Philippines còn tương đối cao”.
Chuyên gia đàm phán thương mại hàng đầu của Philippines sẽ sớm tìm được câu trả lời liệu đàm phán thỏa thuận thương mại với Washington là phúc hay là họa đối với Philippines. Nhưng từ giờ cho đến lúc đó, ông Rodolfo cam kết, phái đoàn đàm phán sẽ tham vấn tất cả các bên liên quan, đặc biệt là người nông dân và người lao động chân tay, để phát họa trước vị thế của Philippines trong đàm phán FTA với Mỹ.
“Điều quan trọng ở đây là tham vấn các bên liên quan, trong đó bao gồm khu vực lao động, chúng ta phải đảm bảo mọi khu vực đều phải tham gia”, ông Rodolfo nhấn mạnh.
Nguồn: Business Mirror - TQ
Từ khóa: Cơ hội, thách thức, FTA, Mỹ, Philippines






















