
Trong bài viết Traders of the Lost Ark gần đây, tôi và các đồng nghiệp ở Viện Doanh nghiệp Cạnh tranh (Competitive Enterprise Institute - CEI) cố gắng dùng các lập luận chặt chẽ về mặt đạo đức và kinh tế để thuyết phục các bên theo đuổi thương mại tự do. Thương mại tự do từ lâu đã là một trong những vấn đề cốt lõi của CEI và chúng tôi cảm thấy cần phải khơi lại vấn đề này trong bối cảnh tranh chấp hiện nay. Chúng tôi tin rằng, các bên tranh chấp đó đã quên mất đi thương mại là gì và tại sao chúng ta cần phải tham gia vào hệ thống đó, và quên đi rằng tranh chấp sẽ dẫn tới xâm phạm quyền tự do và làm tổn thương nặng nề nền kinh tế.
Không chỉ Tổng thống Hoa Kỳ, các chính trị gia trên thế giới đều xem thương mại là công cụ để phục vụ quyền lực quốc gia. Đó là một trò chơi có kẻ thắng, người thua, và nước nào cũng muốn là người chiến thắng để đem lại sự giàu có cho quốc gia. Thật vậy, Trung Quốc đã từng có ý nghĩ đó khi dùng các chính sách thương mại không đẹp để làm bất ổn hệ thống thương mại toàn cầu.
Tình trạng thương mại thế giới bất ổn hiện nay thường được dẫn dắt bởi niềm tin sai lầm rằng xuất khẩu tốt hơn nhập khẩu, và ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia nên được ưu tiên bảo vệ. Trên thực tế, chúng ta xuất khẩu để có nguồn thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu - những hàng hóa không thể tìm thấy trong nước hoặc không thể sản xuất trong nước với mức chi phí đáp ứng được hiệu quả sử dụng tài nguyên khan hiếm. Niềm tin sai lầm này, được gọi là chủ nghĩa trọng thương, là có hại vì nó hạn chế quyền tự do cá nhân và phân bổ sai các nguồn lực kinh tế.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp, thương mại được sử dụng như một công cụ phục vụ chính sách của các chính phủ-vốn-được-cho-là-ủng-hộ-thương-mại-tự-do. Chẳng hạn, hiệp định thương mại EU-Nhật gần đây được ca ngợi vì đã bỏ đi nhiều loại thuế quan, nhưng thực ra đang được sử dụng để nhắm tới các mục đích khác như nguyên tắc phòng ngừa (precautionary principle) trong pháp luật Nhật Bản, bao gồm các cam kết như trong Hiệp định biến đổi khí hậu Paris gây tốn kém chi phí. Cách tiếp cận này khiến cho các thỏa thuận thương mại trở nên cực kỳ dài và phức tạp, nghiêng về các điều khoản không liên quan đến thương mại và dễ bị thao túng bởi những đặc quyền.
Luận điểm của chúng tôi cho rằng thương mại không xảy ra giữa các quốc gia mà là giữa các cá nhân, và những rào cản ngăn chặn các cá nhân tự do trao đổi nên được hạ thấp nhất có thể. Do đó, chúng ta nên loại bỏ cả chủ nghĩa trọng thương lẫn các thỏa thuận thương mại chỉ nhằm phục vụ mục đích chính trị, để ủng hộ thương mại tự do thuần túy.
Một yếu tố quan trọng trong việc tiến tới thương mại tự do hơn là mở rộng sự thừa nhận lẫn nhau giữa các hệ thống pháp luật. Bằng cách thừa nhận rằng hệ thống pháp luật của các nước có hiệu quả tương đương, mối đe dọa “hàng rào phi thuế” (thường là mục tiêu của những cuộc đàm phán thương mại kéo dài) có thể được giảm đi đáng kể. Bằng cách đó, các rào cản phi thuế, như yêu cầu kỹ thuật về chiều dài của dây nguồn thiết bị, có thể được giải quyết mà không cần phải thiết lập các tiêu chuẩn xuyên quốc gia cho mặt hàng này.
Chúng ta cũng nên nhận ra rằng, sử dụng việc đánh thuế hoặc đe dọa đánh thuế làm công cụ để thương lượng sẽ có ảnh hưởng tiêu cực và rõ nét đến những người dân thường. Trên báo chí có đầy rẫy những câu chuyện về những công ty phải đóng cửa kể từ khi các loại thuế được ban hành. Trong khi một số quốc gia có thể thay đổi hướng đi của họ để thỏa hiệp với mối đe dọa thuế quan, các nước khác vẫn giữ vững lập trường, và đa số sẽ áp thuế trả đũa mà bản thân họ cũng bị thiệt hại. Vậy đâu là sự bảo vệ cho các công ty và nhân viên của họ?
Có một sự khác biệt đáng kể giữa mất việc làm vì một công ty không thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu và mất việc làm do thuế quan và chủ nghĩa bảo hộ gây ra. Một bên là kết quả của “sự hủy diệt mang tính kiến tạo”, nơi các nguồn lực được giải phóng để phân bổ vào các mục đích sử dụng có giá trị hơn, dẫn tới mức lương cao hơn trong các lĩnh vực khác nhau. Còn một bên lại là một hình thức tự gây ra tổn thất, trong đó mất việc làm là chi phí của cả quá trình.
"Cuộc chiến thương mại" được định nghĩa ngắn gọn bằng câu nói "giữ công dân của mình làm con tin cho đến khi bên kia ngừng giữ công dân của họ làm con tin". Để giành chiến thắng, các nước tự làm hại những người dân bình thường của họ: mất công ăn việc làm, mất dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục bị bỏ quên. Đó là lý do tại sao hệ thống thương mại toàn cầu sau Thế chiến II coi thuế quan là biện pháp cuối cùng để giải quyết tranh chấp thương mại, khi không còn cách nào khác, chứ không phải là lựa chọn đầu tiên.
Cuối cùng, không có biện pháp hạn chế thương mại xuất phát từ mục tiêu đạo đức hay kinh tế mà lại dựa trên lý lẽ an ninh quốc gia. Không giống như các biện pháp ngăn chặn kẻ thủ trong các cuộc chiến, các biện pháp hạn chế thương mại lại không mang lại hiệu quả trong việc cải thiện an ninh quốc gia. Hơn nữa, câu ngạn ngữ "Nếu hàng hóa không thể vượt qua biên giới, quân đội sẽ làm điều đó" vẫn còn đúng như mọi khi. Tranh chấp thương mại làm trầm trọng căng thẳng quốc tế hơn là làm dịu bớt căng thẳng.
Đó là lý do chúng tôi kêu gọi mọi người cần nhận ra sự cần thiết về mặt đạo đức và kinh tế của thương mại tự do. Thương mại và quá trình đổi mới của nó đã giúp hàng tỷ người thoát nghèo trong vài thập kỷ qua. Sẽ là một bi kịch đau đớn nhất nếu chúng ta quay lưng lại với điều đó.
Nguồn: CEI.org - KDu
Từ khóa: chiến tranh thương mại, đạo đức, kinh tế
Các tin khác
- Bình luận: Chấp nhận các điều kiện để được Mỹ miễn trừ thuế là phản bội lại các nước đang đối mặt với chiến tranh thương mại - 22/08/2018
- Việt Nam và Israel: 25 năm quan hệ ngoại giao - 21/08/2018
- Liệu tự do thương mại có là câu trả lời cho mọi vấn đề? - 21/08/2018
- Khai phá tiềm năng thúc đẩy công cuộc đổi mới của tiến trình toàn cầu hóa - 21/08/2018
- Chỉ dẫn địa lý: 'Giấy thông hành' hữu hiệu - 21/08/2018






















