JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếLiệu tự do thương mại có là câu trả lời cho mọi vấn đề?

Liệu tự do thương mại có là câu trả lời cho mọi vấn đề?

cangbien3005

Sự đồng thuận giữa các nước giàu từ sau Thế chiến II về chủ trương không ngừng thắt chặt quan hệ hợp tác kinh tế đang dần tan rã, khi mà mối lo ngại dành cho chính sách thuế nhập khẩu của Trump gia tăng và khi Anh và EU tái đàm phán về vấn đề quan hệ thương mại giữa hai phía hậu Brexit.

Tại sao hoạt động thương mại mang lại lợi ích?

Các nhà kinh tế học thường tranh cãi nhau trong rất nhiều vấn đề, tuy nhiên, đa số đều có chung quan điểm về những lợi ích của tự do thương mại. Hoạt động này giúp tạo ra của cải bằng cách cho phép các dòng chảy hàng hóa được tự do lưu chuyển xuyên biên giới, mà không bị cản trở bởi thuế quan hay các rào cản tương tự.

Các chuyên gia lập luận rằng, hàng tỷ người trên thế giới đã thoát khỏi tình trạng nghèo đói nhờ vào sự kết hợp sức mạnh giữa nền kinh tế thị trường và tự do thương mại. Vào giai đoạn nửa sau của thế kỷ 19, những quốc gia hùng mạnh nhất thế giới đã chia sẻ sự tiến bộ của họ bằng cách phá vỡ các bức tường bảo hộ - chấm dứt nhiều thập kỷ thống trị của chế độ kinh tế chủ nghĩa quốc gia “bần cùng hóa người láng giềng” – giúp mở ra những thị trường mới, đẩy mạnh cuộc cách mạng công nghiệp, và thúc đẩy sự phát triển của tầng lớp trung lưu.

John Stuart Mill viết rằng: “Thời xa xưa, một người yêu nước điển hình sẽ ước rằng trừ đất nước của mình ra, mọi quốc gia khác đều bị nghèo đói, yếu ớt và quản lý kém. Ngày nay, họ nhận ra rằng sự giàu có và tiến bộ của các nước khác cũng là nguồn gốc trực tiếp mang lại sự giàu có và tiến bộ cho đất nước họ.”

Hai ý tưởng này đã trở thành trọng tâm của các lý thuyết thương mại quốc tế trong suốt hơn 200 năm qua.

Trong tác phẩm nổi tiếng Nguồn gốc Tài sản Quốc gia, Adam Smith đã chỉ ra rằng, các quốc gia nên tập trung nguồn lực của mình vào việc sản xuất và bán những mặt hàng mà họ có “lợi thế tuyệt đối” so với các đối tác thương mại của họ. Và trong nền kinh tế hiện đại, chi phí nhân công rẻ hơn đem lại cho Trung Quốc lợi thế tuyệt đối trong lĩnh vực sản xuất so với phần lớn các nước phương tây. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong cùng một lúc.

Vào thế kỷ 19, David Ricardo đã phát triển ý tưởng này sâu hơn bằng cách lập luận rằng một quốc gia còn có thể có “lợi thế so sánh” so với những nước khác. Ông cho rằng, mặc dù Anh quốc có thể sản xuất ra nhiều rượu và quần áo hơn Bồ Đào Nha, nhưng Anh quốc vẫn phải mất nhiều nguồn lực hơn để làm việc này so với Bồ Đào Nha, do đó, Bồ Đào Nha có lợi thế so sánh đối với hai mặt hàng này.

Cả hai lý thuyết trên đã chỉ ra cho các quốc gia rằng, họ cần tập trung nguồn lực vào việc tạo ra và bán những sản phẩm mà họ có lợi thế so với những đối thủ của mình, và gặt hái lợi ích chung thông qua hoạt động tự do thương mại. Và người tiêu dùng ở cả hai quốc gia sẽ được hưởng lợi từ giá sản phẩm rẻ hơn.

Tuy nhiên, lý thuyết thương mại cổ điển không phải lúc nào cũng đúng trong thực tế, và những quy tắc của nó đòi hỏi tất cả các quốc gia phải chịu phối hợp một cách đồng điệu. Sự phát triển thiếu kiểm soát của nền kinh tế thị trường vẫn tạo ra những kẻ thắng và người thua, đặt ra những thách thức về chính trị và xã hội cho các nhà hoạch định chính sách, những vấn đề mà các mô hình kinh tế không thể giúp giải quyết.

Có hàng nghìn cách để các quốc gia có thể bóp méo sân chơi thương mại. Một cách cực đoan nhất là can thiệp bằng sức mạnh quân sự, tuy nhiên, các nước thường áp dụng những biện pháp phổ biến hơn như trợ cấp cho một ngành nhất định, áp thuế, chi ngân sách và sử dụng hệ thống pháp lý. Chính sách áp thuế nhập khẩu của Trump là một ví dụ nổi bật nhất.

Thuế nhập khẩu hoạt động như thế nào?

Thuế quan là mức thuế đánh tại biên giới đối với hàng nhập khẩu từ nước ngoài. Các nhà nhập khẩu phải trả khoản phí này tại cửa khẩu hải quan của quốc gia hoặc của một khối kinh tế.

Ngoài mục đích tăng nguồn thu cho ngân sách, các mức thuế này có mục đích sâu xa hơn là nhằm làm tăng giá bán của hàng hóa nước ngoài, giúp cho hàng nội địa dễ dàng cạnh tranh hơn, để khuyến khích hoạt động sản xuất trong nước và bảo vệ các doanh nghiệp nội địa khỏi sự cạnh tranh toàn cầu.

Phần lớn các nhà kinh tế học đều thừa nhận rằng chính sách tăng thuế nhập khẩu là phản năng suất. Mặc dù các chính sách này giúp bảo vệ việc làm, chúng cũng có xu hướng làm tăng giá cả hàng hóa tiêu dùng và kiềm hãm sự đổi mới sáng tạo, từ đó gây bất lợi cho nền kinh tế.

Các quốc gia khi đăng ký gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đồng ý sẽ giữ các mức thuế suất của họ ở một giới hạn nhất định. Hoạt động như một tổ chức trọng tài tối cao cho các tranh chấp về thuế quan quốc tế, với số lượng thành viên lên đến hơn 160 quốc gia trong đó có cả Mỹ, Anh quốc, Nhật Bản và Đức, WTO đại diện cho 96% hoạt động thương mại thế giới. Sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001 là một cột mốc quan trọng của nền thương mại thế giới, và năm 2012, một nền kinh tế quan trọng khác của thế giới là Nga cuối cùng cũng trở thành thành viên của tổ chức này.

Mỹ là quốc gia quyền lực nhất trong WTO và là động lực đằng sau sự hình thành của tổ chức này vào năm 1995. Do đó, định hướng hoạt động của tổ chức này mang nhiều dáng dấp của nước Mỹ. Tuy nhiên, ông Trump lại xem quyền lợi của Mỹ trong WTO là một “thảm họa”.

Ngoài việc sử dụng thuế quan để bảo hộ những ngành nội địa, các quốc gia còn thường xuyên hỗ trợ một số ngành nghề bằng các chương trình trợ cấp chính phủ, hoặc áp đặt hạn ngạch đối với khối lượng hàng nhập khẩu từ nước ngoài. Họ còn thiết lập các rào cản phi thuế quan, chẳng hạn như quy định về bằng sáng chế, các quy định về an toàn và sức khỏe, tiêu chuẩn lao động và môi trường, và quy tắc xuất xứ (chẳng hạn như Phô mai Parmesan chỉ có thể được sản xuất tại miền bắc nước Ý).

Trong những thập kỷ gần đây, những quy tắc phi thuế quan này đã giúp các chính sách nội địa ở từng quốc gia tương đồng nhau hơn, để cho phép hoạt động thương mại quốc tế diễn ra ở cấp độ cao hơn. Suy cho cùng, chúng ta sẽ không muốn những tiêu chuẩn an toàn đối với các dòng xe hơi nội địa lại thấp hơn tiêu chuẩn cho xe nước ngoài. Trong vấn đề này, đã có nhiều cuộc tranh luận nổ ra xung quanh việc Anh quốc sẽ dàn xếp tình hình thương mại của họ với EU và Mỹ như thế nào sau khi Brexit.

Nhiều người lo ngại rằng Mỹ sẽ buộc Anh quốc phải nới lỏng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm. Điều này sẽ cho phép các mặt hàng như thịt gà rửa bằng nước clo được bán tại Anh. Trong khi đó, những người ủng hộ Brexit lại lo ngại rằng việc Anh quốc phải tuân thủ các quy tắc của EU sẽ gây cản trở hoạt động đàm phán thỏa thuận thương mại với phần còn lại của thế giới.

Liệu thâm hụt thương mại có là vấn đề nghiêm trọng?

Nhiều nhà kinh tế học có thể sẽ lập luận rằng tình trạng thâm hụt cán cân thương mại không nói lên được điều gì, mặc dù thặng dư thương mại thường được xem là dấu hiệu của một nền kinh tế phát triển vững mạnh.

Tình trạng thâm hụt kéo dài đòi hỏi chính phủ phải bơm thêm tiền vào nền kinh tế thông qua các khoản vay quốc tế,và sẽ trở nên khó hơn nếu độ tín nhiệm của một quốc gia giảm xuống.

Ngoài ra, còn có những rủi ro khác nếu như lệ thuộc quá nhiều vào hoạt động nhập khẩu thay vì sản xuất nội địa. An ninh quốc gia là một vấn đề: ví dụ, liệu một đất nước có nên chỉ dùng thép nhập khẩu nước ngoài để sản xuất xe tăng. Trump đang sử dụng các lý do an ninh quốc gia để biện minh cho phần lớn chính sách thuế của mình, mặc dù giới quan sát tranh cãi rằng ông chọn lý do này vì nó khiến bộ máy chính trị Mỹ khó có thể ngăn cản, trì hoãn hay điều chỉnh các quyết định của ông.

Một rủi ro khác là hoạt động nhập khẩu sẽ hỗ trợ tạo công ăn việc làm cho nước ngoài, thay vì cho người dân trong nước. “Tạo việc làm!” từng là một khẩu hiệu quen thuộc của Trump khi còn tranh cử tổng thống. Các nhà kinh tế học phát hiện rằng, người lao động làm việc trong những ngành bị cạnh tranh nhiều bởi hàng nhập khẩu – chẳng hạn như trong ngành sản xuất – thường là những người bị thiệt thòi nhiều nhất, trong khi dòng chảy việc làm chuyển hướng sang những ngành ít bị ảnh hưởng bởi hoạt động thương mại.

Nếu chính phủ không có một chương trình chuyển đổi việc làm linh hoạt cho những ngành công nghiệp đang bị sa sút, hay một hệ thống phúc lợi xã hội hiệu quả - bằng cách hỗ trợ tìm việc, giáo dục và đào tạo – thì cả cộng đồng xã hội sẽ đối mặt với tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng. Nước Anh trong những năm 1980 là một ví dụ điển hình cho tình trạng này, khi mà Thủ tướng Margaret Thatcher chọn cách đóng cửa các hầm mỏ ở Anh quốc và nhập khẩu than đá từ Nam Phi và Argentina.

Tư do thương mại có phải luôn là câu trả lời?

Các hiệp định thương mại luôn tạo ra kẻ thắng và người thua. Tuy nhiên, mặc dù chính phủ là những người đàm phán các thỏa thuận thương mại, nội dung điều khoản đàm phán thường được đề xuất bởi các nhóm doanh nghiệp vận động hành lang. Do đó, nhiều nhà quan sát cho rằng, những thỏa thuận tự do thương mại thực chất chỉ là kết quả đàm phán của các nhóm doanh nghiệp có quan hệ tốt với chính phủ.

Sự thất bại của Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư Xuyên Đại Tây Dương (TTIP) giữa Mỹ và EU là một ví dụ gần đây nhất. Các doanh nghiệp Mỹ, bao gồm những doanh nghiệp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tư nhân, muốn thông qua hiệp định này để thâm nhập vào các thị trường mới ở Châu Âu. Hiệp định này cuối cùng đã thất bại do làn sóng phản đối từ công chúng lan rộng.

Nhiều người lo sợ rằng các hiệp định thương mại sẽ chỉ có lợi cho những tập đoàn lớn đang hoạt động kinh doanh xuyên biên giới quốc tế, thay vì cho những doanh nghiệp nhỏ hơn. Các nhà sản xuất nội địa có thể bị đẩy lùi khỏi thị trường bởi các đối thủ cạnh tranh toàn cầu với những quy mô kinh doanh khổng lồ.

Luận điểm này được diễn tả chính xác nhất bởi nhà lý luận chính trị Isaiah Berlin. Bà ví von rằng “sự tự do của cây lao là cái chết của bầy cá”.

Tuy nhiên, đằng sau các công ty quốc tế thường là một mạng lưới những công ty nhỏ hơn trong chuỗi cung ứng. Việc dựng lên những rào cản thương mại lớn hơn có thể gây khó khăn cho các công ty đa quốc gia hoạt động xuyên biên giới, đồng nghĩa họ sẽ phải di dời đến những nơi mà việc kinh doanh dễ dàng hơn – từ đó trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến tình hình việc làm và tăng trưởng kinh tế. Sau một giai đoạn phát triển ổn định của toàn cầu hóa trong những năm gần đây, việc tìm cách đảo ngược quá trình này có thể gây ra những tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn.

Các nhà kinh tế học lập luận rằng, cạnh tranh quốc tế giúp kích thích sự đổi mới và tạo ra năng suất cao hơn, họ cũng cảnh báo rằng chủ nghĩa bảo hộ có thể cản trở sự tiến bộ. Chất lượng và số lượng xe hơi sản xuất bởi Liên Xô cũ và các khối Đông Âu khác là một ví dụ, và chất lượng nghèo nàn của các dòng xe mô tô sản xuất tại Anh vào những năm 1970 có thể là một dẫn chứng khác. Người tiêu dùng ngày nay đang được hưởng lợi do chất lượng sản phẩm gia tăng và giá cả giảm xuống.

Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?

Chính sách áp thuế nhập khẩu và các biện pháp trả đũa của Trump đã bắt đầu có dấu hiệu gây ảnh hưởng. Khảo sát cho thấy các nhà sản xuất ở Mỹ và khu vực đồng euro đang chịu thiệt hai từ chi phí vật liệu cao hơn và thời gian giao hàng lâu hơn, trong khi việc sản xuất cũng đang chậm lại.

Công ty Harley-Davidson cho biết, họ sẽ phải di dời cơ sở sản xuất xe mô tô cho phân khúc người tiêu dùng Châu Âu ra khỏi nước Mỹ, nếu Châu Âu thông qua luật áp thuế đối với xe mô tô Mỹ trong một động thái đáp trả thuế nhập khẩu thép của Washington. Tại Anh quốc, Airbus và BMW đã cảnh báo tình trạng mất việc làm, và tạm hoãn việc đầu tư do lo sợ về tương lai mối quan hệ thương mại của Anh quốc với EU. Các chỉ số của Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh đã cho thấy sự suy giảm trong mức độ đầu tư kinh doanh vào Anh quốc kể từ sau cuộc trưng cầu dân ý rút khỏi EU.

Các nhà kinh tế học dự báo rằng chính sách thuế mới của Trump sẽ khiến nhiều người Mỹ bị mất việc làm, cũng như làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, mặc dù Trump tuyên bố rằng những mức thuế này sẽ giúp giữ lại việc làm cho người Mỹ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cảnh báo rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể sẽ chậm lại, giảm khoảng 0,5% đến năm 2020, tương đương 430 tỷ USD (328 tỷ Bảng Anh). Nhiều người còn lo sợ tình hình sẽ còn trầm trọng hơn, khi mà các nước trả đũa bằng cách không ngừng áp thuế cao hơn lên hàng hóa của nhau.

Cột mốc quan trọng tiếp theo sẽ là thời điểm khi Mỹ hoàn tất quá trình điều tra an ninh quốc gia đối với xe hơi và xe tải nhập khẩu, dự kiến kết thúc vào trước tháng 2 năm sau.

Còn về phía Anh quốc, bài kiểm tra quan trọng tiếp theo cho việc rời khỏi EU sẽ diễn ra vào tháng 10, khi Hội đồng Châu Âu họp mặt để cân nhắc về thỏa thuận Brexit, trước khi nước Anh chính thức rút khỏi EU vào tháng 3 năm sau.

Những tranh chấp có thể sẽ tiếp diễn trong nhiều năm tiếp theo. Mặc dù EU đã đáp trả chính sách thuế nhôm và thép của Mỹ bằng mức thuế lên 3,2 tỳ USD hàng hóa Mỹ, họ vẫn đang trì hoãn vòng áp thuế thứ hai lên 4,2 tỷ USD hàng hóa, với thời hạn áp dụng là từ tháng 6 năm 2021 nhằm gây áp lực lên phía Nhà Trắng.

Tác giả Richard Partington

Nguồn: The Guardian- HN

Từ khóa: Tự do thương mại, toàn cầu hóa, chủ nghĩa bảo hộ, thuế nhôm thép nhập khẩu, rào cản thương mại, hội nhập, chiến tranh thương mại, Brexit

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008756861
Go to top