JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếPakistan không chọn bảo hộ trong quan hệ thương mại với Trung Quốc

Pakistan không chọn bảo hộ trong quan hệ thương mại với Trung Quốc

nhandante

Quan hệ thương mại với Trung Quốc chưa bao giờ dễ dàng đối với bất kỳ quốc gia nào. Quy mô đầu tư và sản xuất, cùng với hiệu quả nguồn lao động chưa từng có đã giúp Trung Quốc trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm nhất trên toàn cầu.

Một số quốc gia vẫn có thể tạo ra thặng dư thương mại với Trung Quốc cho dù không có FTA với nước này, và Pakistan cũng không ngoại lệ.

Tuy nhiên, nếu như có thể đàm phán một thỏa thuận thương mại và đầu tư với Trung Quốc, các quốc gia có thể đưa nền kinh tế nước mình hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhờ vào sự chuyển giao công nghệ và nhận đầu tư từ Trung Quốc.

Có nhận định cho rằng thâm hụt thương mại của Pakistan với Trung Quốc chủ yếu do các nhượng bộ thuế quan mà Pakistan cam kết trong Hiệp định thương mại tư do Pakistan - Trung Quốc (CPFTA) ký năm 2006, có hiệu lực từ năm 2007; rằng CPFTA đã làm tổn hại ngành công nghiệp nội địa; rằng Pakistan không có thặng dư thương mại đủ lớn để hưởng lợi từ các FTA ký với Trung Quốc; và bất kỳ mở rộng ưu đãi nào theo CPFTA đều có thể dẫn tới tổn thất lớn hơn cho ngành công nghiệp và kinh tế trong nước, vì vậy, Pakistan vẫn nên giữ nguyên trạng như hiện nay, hơn là ký một thỏa thuận thương mại mới. Ở một khía cạnh nhỏ nào đó, nhận định này là đúng. Nhưng khi nhìn rộng ra trên toàn bộ vấn đề, đây là một nhận định sai, và là một cách tiếp cận thất bại.

Vì thế, các nhà xuất khẩu không hoàn toàn ủng hộ quan điểm này. Họ muốn mở cửa và cam kết sâu hơn trong CPFTA nhằm tiếp cận thị trường Trung Quốc rộng lớn với 1,42 tỷ người, có sức mua và nhu cầu với hàng nhập khẩu không ngừng tăng lên. Pakistan không có nhiều lựa chọn có lợi trong thương mại ở khu vực, nên Pakistan có động cơ để mở rộng quan thương mại với đa số các quốc gia khác, đóng cửa thị trường với Trung Quốc có thể kìm hãm tăng trưởng thương mại và kinh tế của Pakistan.

Lựa chọn giữa hai con đường: bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước hay tăng trưởng thương mại và kinh tế bằng các thỏa thuận thương mại song phương là một vấn đề phức tạp. Hãy cùng xem xét các yếu tố trước khi làm rõ luận điệu này.

CPFTA được ký năm 2006 là FTA đầu tiên của Pakistan và thậm chí là FTA đầu tiên của Trung Quốc. Hai quốc gia chỉ thỏa thuận giải phóng 35% trên tổng các dòng thuế. Có lập luận cho rằng một số dòng thuế được Pakistan tự do hóa (như điện thoại di động) đáng lẽ nên được bảo hộ (mặc dù hầu hết điện thoại di động được nhập lậu vào nước này dù có FTA).

Tương tự, có người cho rằng, nhiều mặt hàng tiềm năng để hỗ trợ xuất khẩu cho Pakistan (chủ yếu trong ngành dệt may) nhưng không được đưa vào danh sách cắt giảm thuế về 0%. Tuy vậy, hai nước thỏa thuận sau 5 năm (tức là năm 2012) sẽ bước vào giai đoạn II của CPFTA nhằm tự do hóa 90% tổng các dòng thuế. Thỏa thuận trong giai đọan đầu cũng không chú trọng đến các điều khoản về bảo vệ sản xuất nội địa và cán cân thanh toán.

Mặc dù có nhiều thiếu sót, CPFTA có lợi cho cả hai quốc gia, giúp xuất khẩu của Trung Quốc vào Pakistan tăng trưởng 189% lên mức 6,6 tỷ USD trong giai đoạn năm 2012 -2013 (từ mức 3,5 tỷ USD năm 2006 - 2007). Ở chiều ngược lại, xuất khẩu của Pakistan vào Trung Quốc tăng đến 433% lên mức 2,6 tỷ USD trong giai đoạn năm 2012 - 2013 (từ mức 0,6 tỷ USD trong năm 2006 - 2007).

Sau đó, Trung Quốc đã ký kết nhiều FTA với các đối tác thương mại khác, với các ưu đãi cao hơn so với các ưu đãi mà Trung Quốc dành cho Pakistan trong CPFTA. Kết quả là kim ngạch xuất khẩu của Pakistan sang Trung Quốc bắt đầu giảm sút kể từ sau giai đoạn 2012 - 2013, và đến năm 2016 - 2017 kim ngạch xuất khẩu chỉ còn đạt 1,5 tỷ USD, tương đương mức giảm 42%.

Đàm phán giai đoạn II của CPFTA bắt đầu vào năm 2011, nhưng sau 7 vòng đàm phán, đến năm 2017, cả hai nước vẫn không đi đến được thống nhất, khi Pakistan yêu cầu nâng cấp độ đàm phán lên thành cuộc họp giữa Bộ trưởng Thương mại Pakistan và Thứ trưởng Thương mại Trung Quốc.

Ba vòng đàm phán gần đây bàn về rất nhiều vấn đề, như giảm mức độ tự do hóa từ 90% (được dự kiến năm 2006 cho giai đoạn II) xuống còn 75%, đồng nghĩa với việc tăng mức độ bảo hộ lên 25%, nhiều hơn mức cần thiết để bảo hộ các ngành công nghiệp trong hiện tại lẫn trong tương lai.

Hai bên cũng đã thống nhất các điều kiện để được áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp ngành công nghiệp nội địa bị tổn hại hoặc xảy ra các vấn đề về cán cân thanh toán, cũng như cơ chế rà soát định kỳ. Kết quả đáng chú ý nhất của các vòng đàm phán vừa qua là cơ quan hải quan của hai bên đã đạt được thỏa thuận sơ bộ về việc trao đổi dữ liệu quy tắc xuất xứ và giá cả hàng hóa nhập khẩu theo FTA.

Điều này sẽ giúp giải quyết các vấn đề như xuất hóa đơn nhỏ hơn giá trị thực của hàng hóa hay khai báo sai, xuất phát từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Vòng đàm phán gần nhất đã thảo luận các yêu cầu và đề nghị từ cả hai phía cho danh sách cuối cùng, để có thể được thông qua trong các vòng đám phán tiếp theo, tiến tới hoàn tất hiệp định.

Thâm hụt thương mại với một nền kinh tế lớn có nhất thiết là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế của nước nhỏ hơn đang gặp vấn đề? Câu trả lời của tôi là không.

Đã có nhiều ví dụ cho thấy, nước nhỏ hơn thường được lợi trong những mối quan hệ kinh tế song phương nước nhỏ – nước lớn, có thể kể đến như giữa Việt Nam và Trung Quốc, Thái Lan và Nhật Bản, Mexico và Mỹ, và một số cặp quốc gia khác.

Nếu nhìn vào cơ cấu nhập khẩu hiện nay từ Trung Quốc và thâm hụt thương mại mà nước này tạo ra, chúng ta có thể thấy rằng 60% hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc được hưởng ưu đãi thuế theo CPFTA và 40% còn lại bao gồm hàng hóa nguyên liệu thô và máy móc (phần lớn để phục vụ cho Sáng kiến Hành lang kinh tế Trung Quốc - Pakistan CPEC).

Hầu hết các hàng hóa nhập khẩu tận dụng ưu đãi từ CPFTA trước đó được nhập từ các quốc gia khác, nhưng dần dần chuyển sang nhập từ Trung Quốc. Nếu cho rằng sự chuyển hướng trên hoàn toàn chỉ do FTA là không đúng. Một số mặt hàng khác, như tấm pin năng lượng mặt trời, sở dĩ giành được thị phần là nhờ vào việc cải thiện chất lượng trong những năm gần đây.

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu của Pakistan lại chuyển hướng từ Trung Quốc sang các quốc gia khác chủ yếu là do thuế quan cao. Do vậy Pakistan phải chú trọng lấy lại thị phần xuất khẩu đã để mất ở thị trường Trung Quốc. Bên cạnh đó, Pakistan cũng cần theo sát nhu cầu hàng nhập khẩu đang tăng ở Trung Quốc và khai thác thêm nữa thị trường đầy tiềm năng này với nhu cầu nhập khẩu lên đến 1,7 nghìn tỷ USD mỗi năm. Không chỉ chú trọng xuất khẩu, Pakistan cũng nên ưu tiên nhập khẩu nguyên liệu thô, hàng hóa trung gian được ưu đãi thuế để sản xuất hàng hóa xuất khẩu đi thị trường các nước trên thế giới, bao gồm cả thị trường Trung Quốc.

Cũng đúng khi cho rằng mở cửa thị trường thông qua ký kết FTA không đồng nghĩa với việc thúc đẩy xuất khẩu hay hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều đó chỉ đúng khi doanh nghiệp trong nước hoặc doanh nghiệp FDI cũng đồng thời đầu tư mới, mở rộng và nâng cấp nhà máy, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm đầu ra. Tương tự, chỉ tập trung vào bảo hộ các ngành công nghiệp cũng không thể giải quyết được thâm hụt thương mại, nếu các doanh nghiệp trong và ngoài nước không đầu tư thay thế hàng nhập khẩu. Bảo hộ vô lý bằng cách đánh quá cao lên hàng quan nhập khẩu, đặc biệt là hàng nguyên liệu, hàng hóa trung gian và các loại máy móc sản xuất mà trong nước không thể sản xuất đủ để đáp ứng nhu cầu, chỉ gây tổn hại cho ngành công nghiệp nội địa. Các ngành công nghiệp khác và các doanh nghiệp xuất khẩu cần sử dụng đến những mặt hàng bị bảo hộ này sẽ trở nên thiếu khả năng cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế và tốn nhiều chi phí hơn khi hoạt động tại địa phương, tạo điều kiện khuyến khích hoạt động buôn lậu.

Do đó, cả tự do hóa thương mại và bảo hộ phải được hiệu chỉnh cẩn trọng trong một chính sách thương mại và đầu tư cân bằng, vừa tăng cường xuất khẩu và vừa thay thế hàng nhập khẩu. Để đạt được các mục tiêu này, quan trọng là phải thu hút đầu tư vào lĩnh vực sản xuất. Cơ hội rõ ràng nhất trong quan hệ kinh tế Trung Quốc - Pakistan nằm ở giai đoạn hiện nay của CPEC: hợp tác công nghiệp.

Giai đoạn đầu của CPEC kết thúc thành công bằng việc đặt nền móng cho một cơ sở hạ tầng về năng lượng và thông tin liên lạc. Giai đoạn hiện tại cần một cách tiếp cận toàn diện tương tự để tăng cường thương mại và giải quyết những thách thức về cán cân thanh toán giữa hai nước. Các khoản đầu tư CPEC hiện tại, mặc dù giải quyết được thách thức lớn của Pakistan trong vấn đề thiếu hụt năng lượng và cải thiện tính kết nối với Trung Quốc, tuy nhiên các dự án này lại thuộc lĩnh vực phi sản xuất, và vì vậy, các ngành công nghiệp khác phải tăng trưởng theo đủ mạnh để cả nền kinh tế được hưởng lợi từ các dự án trên. Nếu các khoản FDI của Trung Quốc không đầu tư vào các ngành công nghiệp sản xuất nhằm tái cân bằng cán cân thương mại, việc hồi hương của các dự án hạ tầng trên cũng sẽ gây áp lực lên cán cân thanh toán giữa hai nước.

Học hỏi theo mô hình của Việt Nam là những gì cần thiết để tạo ra một quan hệ đôi bên cùng có lợi cho Trung Quốc và Pakistan (kể cả trong dự án CPEC lẫn CPFTA). Ngoài yếu tố năng suất lao động, Việt Nam đã trở thành con hổ châu Á mới nổi nhờ vào các khoản đầu tư và chuyển giao công nghệ to lớn và liên tục từ Trung Quốc. Việt Nam có thâm hụt thương mại rất lớn với Trung Quốc, lớn hơn nhiều lần so với Pakistan, nhưng thông qua hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam có thặng dư chung trên toàn thế giới, nhờ việc đầu tư vào công nghiệp sản xuất và, và từ việc Trung Quốc đầu tư các nhà máy sản xuất tại đây.

Pakistan cũng đang đón nhận một cơ hội tương tự khi mà Sáng kiến CPEC đang chuyển hướng sang hợp tác công nghiệp thông qua các Đặc khu kinh tế. Với tình trạng trước mắt của cán cân thanh toán, Pakistan nên theo đuổi các giải pháp ngắn hạn, bao gồm khuyến khích Trung Quốc di dời các nhà máy sang Pakistan và đầu tư vào các ngành sản xuất xuất khẩu hoặc các ngành thay thế hàng nhập khẩu.

Để Pakistan có thể hưởng lợi từ quan hệ ngày càng phát triển với Trung Quốc, đòi hỏi cả hai nước phải có cách tiếp cận toàn diện ở cấp độ chính sách thương mại và đầu tư để giúp cho mối quan hệ hợp tác kinh tế này được bền vững.

Nguồn: Dawn.com - KDu

Từ khóa: Pakistan, Trung Quốc, thương mại, FTA, thúc đẩy xuất khẩu, thay thế nhập khẩu

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008773765
Go to top