
Trong nhiều thập kỷ, các nhà kinh tế đã phản đối chủ nghĩa bảo hộ vì những tổn thất kinh tế mà nó mang lại. Tuy nhiên giờ đây, một số nhà kinh tế đã bắt đầu thừa nhận mặt trái của việc mở cửa thị trường.
Nhiều nhà kinh tế đã cười nhạo trước câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu Donald Trump có quyền đóng cửa biên giới”. Phần lớn cho rằng lợi ích của tự do thương mại là một điều hiển nhiên.
Tuy nhiên ngày càng có nhiều nghiên cứu đưa ra các kết quả khác nhau, ví dụ, một nghiên cứu cho thấy có hơn 100 việc làm ở nước Pháp bị mất đi mỗi ngày do tác động từ Trung Quốc.
Vậy tại sao các nhà kinh tế lại ủng hộ tự do thương mại trong suốt một thời gian dài như vậy? Một số dựa vào các học thuyết kinh tế, đặt niềm tin vào tính hiệu quả của tự do thương mại. Nhưng cũng có một số khác không tin vào những lợi ích từ việc mở cửa biên giới.
Cách đây nửa thế kỷ, nhà kinh tế học Paul Samuelson, người đã đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1970 đã giải thích điều này bằng những số liệu thực tế. Một người bạn của ông, hoạt động trong lĩnh vực toán học đã thách thức ông đưa ra luận chứng “đúng và cụ thể” về lợi ích của tự do thương mại. Samuelson đã trả lời bằng cách trích dẫn lý thuyết về “lợi thế so sánh tương đối” của David Ricardo vào thế kỷ 19, cho thấy hai quốc gia cùng có lợi từ thương mại mặc dù lợi thế so sánh tuyệt đối của một quốc gia lớn hơn quốc gia còn lại.
Samuelson cũng nói thêm: “Đối với một nhà toán học, lợi ích thực tế của tự do thương mại là không phải bàn cải”.
Tính ưu việt của tự do thương mại là điều hiển nhiên đối với các nhà kinh tế học - nó cũng là câu trả lời cho những hoài nghi còn tồn tại và là bằng chứng chứng minh rằng kinh tế học là một ngành khoa học hữu dụng.
Trong nhiều thập niên qua, các chuyên gia thương mại quốc tế đã thực hiện nhiều phân tích chuyên sâu về học thuyết lợi thế so sánh. Nhưng cũng trong thời gian trên, thế giới đang dần thay đổi. Năm 1992, ông trùm thương mại Ross Perot đã giành được 20 triệu phiếu bầu trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ sau khi cảnh báo rằng tình trạng dòng chảy việc làm trong nước bị chảy sang Mexico sẽ là “một cú giáng mạnh”. Một năm sau, thượng nghị sĩ Pháp Jean Arthuis đã phát hành một báo cáo kêu gọi tăng thuế suất. Năm 1999, hàng chục ngàn người dân Seatle biểu tình chống lại tự do thương mại tại Seatle.
Nhà kinh tế học Paul Krugman, người đoạt giải Nobel năm 2008, lập luận như sau: vào thời điểm đó, những bất cập được tạo ra bởi thương mại quốc tế là không đáng kể. Tuy nhiên sự trổi dậy của Trung Quốc đã làm thay đổi trật tự của mọi thứ.
Năm 2004, Paul Samuelson, người ca ngợi tính ưu việt của tự do thương mại, đã một lần nữa khẳng định niềm tin của ông. Với một lời giải thích tương tự như học thuyết của David Ricardo, ông sử dụng hai quốc gia để chứng minh rằng thương mại tự do đôi khi có thể tạo ra sự thay đổi về công nghệ trong một nước, nhưng mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia, trong khi sự gia tăng về năng suất ở một nước đôi khi có thể chỉ đem lại lợi ích cho một bên và gây thiệt hại cho quốc gia còn lại.
Mất việc làm, do tiến bộ kỹ thuật hay toàn cầu hóa?
Thay vì chỉ dựa vào luận điểm của bản thân, nhiều nhà kinh tế học về tự thị trường tự do còn lập luận dựa trên những ví dụ thực tế. Các nhà kinh tế học tại Hoa Kỳ cũng nhắc đã đến các chính sách bảo hộ được thực hiện ở Nam Mỹ, Braxin là một ví dụ về thất bại nặng nề trong nỗ lực bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ trong nước. Tuy nhiên, có vẻ do người Mỹ sống quá xa nên không nhận ra rằng những quốc gia như Hàn Quốc hay Trung Quốc cũng có các biện pháp bảo vệ thị trường trong nước vô cùng hiệu quả, tương tự với Mỹ vào thế kỷ 19.
Rất khó để phân biệt tỷ lệ ảnh hưởng giữa tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Mất việc làm, nguyên nhân do tiến bộ kỹ thuật hay toàn cầu hóa? Cũng không thể cho rằng nguyên nhân gây mất việc làm tại quốc gia này cũng là nguyên nhân chung cho toàn bộ các quốc gia khác.
Hiện nay, các nhà kinh tế học đồng ý rằng, toàn cầu hóa có cả người chiến thắng lẫn kẻ thua cuộc. Họ cũng nghiên cứu các công cụ mới cho phép phân tích chính xác hơn tác động của thương mại. Tuy nhiên, kết luận rút ra vẫn còn mâu thuẫn. Chuyên gia thương mại quốc tế nổi tiếng Gary Hufbauer đã tính toán ra rằng, năm 2009, việc Mỹ áp thuế đối với lốp xe nhập khẩu của Trung Quốc đã giúp bảo vệ khoảng 1.200 việc làm sản xuất trong nước, tuy nhiên điều này lại đã làm giảm gấp ba lần số việc làm trong các ngành khác.
Cách đây 5 năm, David Autor, một nhà kinh tế học về vấn đề lao động tại MIT, đã tạo ra làn sóng chống đối khi cùng với David Dorn và Gordon Hanson, cho rằng sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu của Trung Quốc đã làm mất đi nửa triệu việc làm trong ngành công nghiệp Mỹ trong giữa thập kỷ 90 đến năm 2017. Tuy nhiên, ông Robert C. Feenstra (Đại học California, Berkeley), Hong Ma và Yuan Xu (Đại học Thanh Hoa) đã sử dụng cùng một phương pháp để lập luận rằng việc tăng xuất khẩu ở Mỹ đã tạo ra số việc làm tương tự như số việc làm bị mất do nhập khẩu.
Nhìn chung các nhà kinh tế không không hoàn toàn cho rằng Tổng thống Trump đã đúng. Họ chỉ đơn giản là nhìn vào thương mại quốc tế một cách đa chiều hơn, do đó tăng khả năng nhận diện đầy đủ các tác động của toàn cầu hóa và giải quyết tình trạng mất cân đối trong cân bằng lợi ích tổng thể.
Samuelson đã thực hiện một so sánh khi ông trích lại câu nói nổi tiếng của Hoàng hậu Marie Antoinette “nếu không có bánh mì hãy để họ ăn bánh ngọt. Nhưng lịch sử cho thấy không có bất kỳ ghi chép nào về việc chuyển bột hoặc bơ cho người dân của bà.”
Nguồn: Wordcrunch
Từ khóa: chủ nghĩa bảo hộ, lợi thế so sánh, tự do thương mại, mở cửa thị trường, toàn cầu hóa
Các tin khác
- Cuộc chiến thương mại: WTO có cần một cuộc cải tổ? - 17/04/2018
- CPTPP và vai trò lãnh đạo trong Hệ thống thương mại toàn cầu - 17/04/2018
- Châu Phi sẽ hưởng lợi nếu Nam Phi và Nigeria ủng hộ thương mại tự do - 16/04/2018
- Vũ khí bí mật của Trung Quốc trong căng thẳng thương mại với Mỹ - 16/04/2018
- Thế khó của Mỹ khi quay trở lại TPP - 16/04/2018






















