JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếMối quan hệ thương mại xa cách giữa Mỹ và Trung Quốc hiện nay không phải là sự lặp lại của quan hệ Mỹ - Nhật những năm 1980

Mối quan hệ thương mại xa cách giữa Mỹ và Trung Quốc hiện nay không phải là sự lặp lại của quan hệ Mỹ - Nhật những năm 1980

TrumpBinh14032018

Washington đang sử dụng một vài biện pháp thương mại đã từng áp dụng với Tokyo để đối phó với Bắc Kinh, nhưng lần này mọi chuyện đã khác.

Thoạt nhìn, căng thẳng thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ có vẻ giống như tình huống mà Nhật Bản đối mặt trong thập niên 1980: khi một nền kinh tế châu Á trổi dậy đã trở thành một mối đe dọa cho gã khổng lồ thống trị về thương mại như Mỹ, và Mỹ đã trả đũa bằng cách cực lực lên án và đòi hỏi nước đó phải nhân nhượng.

Thứ hai tuần trước, tờ People’s daily đã đăng một bài bình luận của Cựu Thủ tướng Nhật Bản Yasuo Fukuda, trong đó so sánh mối nguy về cuộc chiến thương mại mà Trung Quốc đang đối mặt với những gì đã diễn ra ở Nhật Bản trong thập niên 1980 và cảnh báo Bắc Kinh “phải rút kinh nghiệm từ bài học xương máu của Nhật Bản”.

Thế nhưng, các nhà phân tích lại cho rằng, 2 tình huống này không hoàn toàn giống nhau. Trung Quốc không phải là Nhật Bản. Ngày nay, Bắc Kinh có vị thế tốt hơn so với Tokyo 30 năm về trước để có thể kiểm soát tốt mối đe dọa về một cuộc chiến thương mại.

Khi phát động các bước đi thương mại nhằm vào Trung Quốc, đội ngũ phụ trách chính sách thương mại của Tổng thống Donald Trump dẫn đầu là Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer dường như đang dựa vào cách tiếp cận mà Washington từng áp dụng trong cuộc chiến với Nhật trước đây (Lúc đó, ông Lighthizer đang là Phó Đại diện Thương mại Mỹ dưới thời Cựu Tổng thống Reagan).

Tháng 8 năm 2017, Mỹ bắt đầu tiến hành các cuộc điều tra theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 – một công cụ mà nước này thường xuyên sử dụng để đối phó với Nhật Bản – nhằm vào chính sách công nghiệp phân biệt đối xử của Bắc Kinh cũng như hành vi ăn cắp sở hữu trí tuệ của quốc gia châu Á này.

Trong khi Trump tiếp tục thúc ép Trung Quốc thu hẹp thặng dư thương mại với Mỹ, việc phát động điều tra theo điều 301 tập trung vào chính sách công nghiệp và các tham vọng của Bắc Kinh trong ngành công nghệ kỹ thuận cao.

“Căng thẳng giữa Bắc Kinh và Washington phản ánh cuộc đối đầu giữa một nền kinh tế thị trường và một nền kinh tế do nhà nước can thiệp, một cuộc chạy đua về tính cạnh tranh công nghiệp trong chuỗi sản xuất toàn cầu, và thậm chí là cuộc chiến giành quyền thiết lập trật tự kinh tế thế giới”, một cố vấn cho Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc nhận định.

Các nhà quan sát phân tích, “chủ nghĩa tư bản nhà nước” của Trung Quốc đã giúp quốc gia này trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Mặc dù vậy, các tập quán kinh doanh của Trung Quốc – đặc biệt là việc nhà nước trợ cấp cho các gã khổng lồ công nghiệp và công nghệ cũng như việc nước này hạn chế các công ty và nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường – đang ngày càng làm cho các đối tác thương mại của Trung Quốc bất mãn.

Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã trở thành một đồng minh thân thiết với Mỹ, và lệ thuộc lớn vào Mỹ trong vấn đề an ninh. Hệ thống kinh tế và chính trị của Đất nước mặt trời mọc khá tương đồng với Mỹ, và hai nước đều có chung mục tiêu trong việc giảm bớt tầm ảnh hưởng ngày một lớn của Trung Quốc tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì vậy, khi nhận thấy bản thân đang thặng dư lớn với Mỹ trong mấy chục năm qua, Nhật Bản đã rất xem trọng lời phàn nàn từ đối tác thương mại của mình.

“Nhật Bản có nhiều lý do để nghe theo lời đề nghị của Hoa Kỳ và nhúng nhường trước sức ép của Mỹ theo cách mà Nhật đã làm”, đó là nhận định của ông Julian Evans-Pritchard, chuyên gia Trung Quốc tại Capital Economics – một tổ chức nghiên cứu kinh tế có trụ sở tại London.

Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc ít phụ thuộc vào xuất khẩu hơn là Nhật. Vì vậy, mất mát của Trung Quốc trong một cuộc chiến thương mại sẽ ít hơn Nhật Bản, và sẽ khó cho Mỹ để ép buộc Trung Quốc phải thay đổi các chính sách công nghiệp của mình hơn.

Ông Evans Pritchard nhận xét “Trung Quốc có hệ thống chính trị rất khác biệt. Nước này quyết tâm đi theo mô hình phát triển riêng và tin tưởng vào mô hình đó. Mọi người không nền kỳ vọng Trung Quốc hủy bỏ mô hình của mình một cách dễ dàng chỉ bởi vì áp lực mà Mỹ gây ra lên vấn đề thương mại”.

Thật ra, Bắc Kinh không ngại đối đầu với Mỹ, bằng cách cứng rắn trong đàm phán hay bằng việc áp thuế để trả đũa lại. Trong cuộc đối đầu 30 năm trước, Tokyo không thể cả gan như vậy. Nhật Bản đã ở vào thế yếu hơn nhiều, bởi vì nền kinh tế của Nhật phụ thuộc vào xuất khẩu nói chung và phụ thuộc vào thị trường Hoa Kỳ nói riêng.

Ông Arthur Kroeber, đồng sáng lập kiêm giám đốc điều hành hãng nghiên cứu Gavekal Dragonomics có trụ sở ở Hong Kong cho rằng, những bất đồng sâu sắc về mặt nền tảng giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc sẽ không thể nào được xóa bỏ trong một sớm một chiều, vì Hoa Kỳ vẫn chưa hoàn toàn chắn chắn về mục tiêu của mình.

Ông Kroeber cho biết “Quyển sách về cuộc đối đầu này vẫn sẽ còn được viết tiếp. Trung Quốc đang ở chiếm ưu thế và sẽ không sớm thay đổi các vấn đề đang khiến cho các đối tác thương mại của mình nổi giận”.

Năm 1965, Nhật Bản lần đầu tiên có thặng dư thương mại với Mỹ. Đến năm 1987, Nhật Bản vượt qua Liên minh Xô Viết, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Bất đồng thương mại giữa Nhật với Mỹ bắt đầu vào cuối thập niên 1950 và lên đến đỉnh điểm vào cuối những năm 1980.

Năm 1991, Nhật Bản chiếm đến 65% trong tổng thâm hụt thương mại của Mỹ. (Theo số liệu thống kê của Mỹ, năm 2017, Trung Quốc đang chiếm gần một nửa trong tổng thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ).

Khi thặng dự thương mại của Nhật so với Mỹ tiếp tục gia tăng đều đặn trong suốt giai đoạn đó, giữa hai nước liên tiếp xảy ra các bất đồng liên quan đến hàng loạt các mặt hàng như dệt may, thép, ô tô, sợi và chất bán dẫn.

Trong thập niên 1980, để hạn chế hàng xuất khẩu của Nhật Bản, Mỹ đã dùng hàng loạt các biện pháp: áp thuế chống bán phá giá lên hàng hóa đến từ Nhật Bản, đặc biệt là thép và ô tô; mở các cuộc điều tra thương mại nhằm ra hiệu sẽ áp thuế trừng phạt cao ngất ngưỡng; và buộc Nhật Bản áp đặt các biện pháp kiểm soát xuất khẩu và tăng cường nhập khẩu từ Mỹ.

Từ năm 1976 đến 1989, Mỹ phát động hơn 20 cuộc điều tra theo Điều 301 lên các ngành công nghiệp của Nhật như thép, viễn thông, dược phẩm, chất bán dẫn, vệ tinh, siêu máy tính và gỗ. Hoa Kỳ cũng đã buộc Nhật Bản phải thực hiện một số nhượng bộ như mở cửa thị trường trong nước, giảm xuất khẩu vào Mỹ, cải thiện hệ thống luật pháp trong nước, và thực thi các cam kết trong bảo hộ sở hữu trí tuệ và đối đãi bình đẳng với nhà đầu tư nước ngoài.

Năm 1991, Jean Heilman Grier - cố vấn cấp cao cho Bộ Thương Mại Hoa Kỳ khi đó - đã nói, “Điều 301 của Luật Thương mại 1974 đã trở thành một trong những vũ khí hiệu quả nhất của Mỹ trên bàn đàm phán, khiến cho Nhật phải miễn cưỡng tham gia các thỏa thuận thương mại”.

Ngoài ra, để cắt giảm thâm hụt thương mại khổng lồ với Nhật, Hoa Kỳ còn buộc đất nước châu Á phải làm tăng giá đồng Yên. Trong Hiệp ước Plaza ký tháng 9 năm 1985, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Tây Đức và Anh đã thống nhất cùng nhau can thiệp vào thị trường ngoại hối để làm giảm giá đồng đô la Mỹ so với đồng Yên Nhật và đồng mark Đức. Trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến năm 1988, tỷ giá đồng Yên trên đồng đô la Mỹ đã tăng đến 86%.

Đồng thời, Nhật Bản cũng đã phải nới lỏng chính sách tiền tệ để hạ lãi suất nhằm kích thích tiêu dùng nội địa để bù lại tổn thất do đồng Yên tăng giá. Thế nhưng, động thái trên rốt cuộc lại khiến cho giá tài sản tăng cao, dẫn đến tình trạng bong bóng và phải mất hàng chục năm để “xì hơi” quả bong bóng đó.

Với một quỹ đạo tương tự tại một nền kinh tế đang phát triển, giới chức và học giả Trung Quốc đã nghiên cứu và tranh cãi nhiều năm qua về bài học rút ra được từ “các thập kỷ mất mát” của Nhật Bản.

Xie Yaxuan - kinh tế trưởng của China Merchants Securities ở Thâm Quyến nhận định, Nhật Bản đã đánh giá thấp tác hại của bong bóng tài sản nên đã không đủ sát sao để có thể đưa ra các chính sách đáp trả kịp thời trước những thay đổi trong tăng trưởng kinh tế.

“Trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế, quan trọng phải tìm ra được một động lực mới lèo lái nền kinh tế và khiến cho nền kinh tế đủ sức dẻo dai để thay thế cái cũ. Điều đó còn quan trọng hơn việc đạt được mục tiêu về tỷ giá và các chính sách kinh tế khác”, ông Xie phân tích. “Và Trung Quốc đã làm rất tốt việc đó”.

Về quy mô kinh tế, Trung Quốc ngày nay lớn mạnh hơn nhiều so với Nhật Bản những năm 1980. Từ năm 2010, Trung Quốc đã thay thế Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và đang tiếp tục thu hẹp khoảng cách với người dẫn đầu là Mỹ.

Ngân hàng Trung Ương Trung Quốc đang hướng đến mục tiêu ổn định đồng Nhân dân tệ. Cộng với dự trữ ngoại hối đồng đô la Mỹ khổng lồ, kinh tế Trung Quốc ngày nay có độ kết nối với kinh tế của Hoa Kỳ cao hơn nhiều so với quan hệ giữa Nhật và Mỹ những năm 1980”, đó là nhận định của Ông Shen Jianguang, chuyên gia Trung Quốc tại Mizuho.

Ông Shen cũng nhắc đến thị trường tiêu thụ khổng lồ của Trung Quốc và đồng Nhân tệ ổn định như là hai yếu tố khác biệt nữa giữa Trung Quốc ngày nay so với Nhật Bản những năm 1980.

Xuất khẩu của Trung Quốc chỉ đóng góp 1/5 trong tổng GDP của nước này; lợi thế về lao động giá rẻ của Trung Quốc đã giảm dần và thay vào đó, phần lớn trong tăng trưởng của Trung Quốc đến thị nhu cầu nội địa. Xuất khẩu của nước này vào Mỹ chiếm chưa đến 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc năm 2017, trong khi Nhật Bản tại giai đoạn đỉnh điểm đó đã có gần 40% kim ngạch xuất khẩu là vào thị trường Hoa Kỳ.

Trung Quốc cũng đang tìm kiếm các thị trường nước ngoài mới thông qua “Sáng kiến Vành đai và Con đường”, nhằm mục đích thắt chặt thêm quan hệ thương mại và kinh tế với các nước châu Á và cả châu Âu, đồng thời cũng tấn công vào thị trường châu Phi và châu Mỹ La tin.

“Trung Quốc có thể khai thác thị trường nội địa với tầng lớp trung lưu đến 300 triệu người. Và về khoản dùng thị trường trong nước làm tấm đệm dự phòng, Trung Quốc có ưu thế hơn Nhật Bản”, ông Lu Xiang – chuyên gia Mỹ của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc nhận xét.

Ông Lu cho biết Hoa Kỳ đang gặp thách thức trong việc kiểm soát sức mạnh đang giảm của mình cũng như kiểm soát sức mạnh đang gia tăng của Trung Quốc.

Ông Lu nói “Trung Quốc và Mỹ sẽ còn tiếp tục đối đầu kéo dài, cho dù ai đang dẫn dắt nước Mỹ đi chăng nữa”.

Trước Trump, nước Mỹ đã phát động 5 cuộc điều tra theo điều 301 nhằm vào Trung Quốc: 1 cuộc điều tra là vào các rào cản tiếp cận thị trường năm 1991; 3 cuộc điều tra vào vấn đề quyền sở hữu trí tuệ trong giai đoạn 1991 – 1996; và gần đây nhất là 1 cuộc điều tra vào chính sách năng lượng sạch của Trung Quốc trong năm 2010 (Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001).

Đã không có cuộc trừng phạt nào thực sự diễn ra, các nước đã đi đến thỏa thuận để xoa dịu căng thẳng. Trung Quốc đã điều chỉnh quy định về sở hữu trí tuệ, thắt chặt bảo hộ sở hữu trí tuệ, xóa bỏ trợ cấp nhà nước trong ngành năng lượng xanh và mở cửa thị trường thêm cho Mỹ.

Còn lần này, Mỹ đã cáo buộc Trung Quốc sử dụng các tập quán thương mại không công bằng và các chính sách công nghiệp để gây tổn thương cho nền kinh tế Mỹ, chẳng hạn như hành vi ép buộc chuyển giao công nghệ hay việc cấp phép mang tính phân biệt đối xử cho các doanh nghiệp Mỹ để đổi lấy quyền tiếp cận thị trường Trung Quốc, các vụ thâu tóm các công ty công nghệ ở nước ngoài có sự nhúng tay của chính phủ, và việc ăn cắp các bí quyết thương nghiệp.

Sau khi Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ đưa ra kết luận của cuộc điều tra theo điều 301 vào hôm 22/3, Trump hôm 4/4 đã thông báo sẽ áp thuế 25% lên hàng hóa Trung Quốc, bao gồm máy móc, chất bán dẫn, và thiết bị y tế, với tổng trị giá 50 tỷ USD.

Trong vài giờ tiếp theo, Bắc Kinh đã đáp trả bằng cách áp thuế ở mức tương tự lên hơn 100 mặt hàng nhập khẩu từ Mỹ, bao gồm ô tô và máy bay, 2 mặt hàng có thị phần lớn ở Trung Quốc. Ngoài ra, danh sách áp thuế còn có đậu nành, thịt lợn và các sản phẩm nông nghiệp khác – những ngành được xem là bệ đỡ chính trị cho ông Trump.

Nếu như Nhật Bản đã xây dựng các nhà máy sản xuất ô tô và hàng điện tử trong lòng nước Mỹ như là cách để giảm căng thẳng, Trung Quốc lại không như vậy. Do đó, các nhà đầu tư của Trung Quốc có thể sẽ gặp khó khăn hơn khi tiếp cận thị trường Mỹ.

Viện dẫn lý do an ninh quốc gia, Quốc hội Hoa Kỳ đã sửa đổi luật để cho phép Ủy Ban Đầu tư Nước ngoài của Hoa Kỳ xem xét, cấp phép cho các khoản đầu tư từ các nước khác vào Mỹ, đặc biệt là các khoản đầu tư đến từ Trung Quốc và Nga. Theo yêu cầu của Tổng thống, Bộ Tài chính đang nghiên cứu thêm các quy định để hạn chế các khoản đầu tư từ Trung Quốc.

Tuần rồi tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao, Chủ tịch Trung Quốc Tập cận Bình đã phát biểu, Trung Quốc sẽ mở cửa thêm thị trường, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn hơn, cải thiện vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ, tăng cường nhập khẩu và giảm thuế nhập khẩu để giải quyết vấn đề về mất cân bằng thương mại.

Nhưng theo ông Evans-Pritchard, bài phát biểu của Bắc Kinh không cho thấy dấu hiệu nước này sẵn lòng thay đổi chính sách công nghiệp. Phòng thương mại châu Âu (EuCharm) tại Trung Quốc cho biết bài phát biểu vẫn còn thiếu chi tiết và không đề cập đến các biện pháp cụ thể để thực hiện các cải tiến trên.

Chủ tịch EuroCharm Mats Harborn cho biết “Phần lớn phát biểu của chủ tịch Tập là lặp lại lời hứa của năm trước đó. Các doanh nghiệp châu Âu vẫn đang trông đợi các biện pháp cải cách cụ thể và các cam kết về mặt thời gian để thực hiện các lời hứa trên”.

Ông Kroeber cũng loại trừ khả năng bất đồng có thể được giải quyết nhanh chóng và hi vọng các bên tiếp tục kiềm chế. “Trung Quốc sẽ không từ bỏ các mục tiêu trong chính sách công nghiệp của mình, và Hoa Kỳ sẽ không bị mắc bẫy chỉ với những nhượng bộ như thường lệ từ Trung Quốc”.

Nguồn: SCMP – TQ

Từ khóa: Chiến tranh thương mại, Trung Quốc, Mỹ, Nhật, 1980

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008757425
Go to top