JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếLàn sóng phản đối toàn cầu hóa đã đến sai thời điểm

Làn sóng phản đối toàn cầu hóa đã đến sai thời điểm

toancauhoa29032018

Trong thập niên 1990 và 2000, nền kinh tế thế giới đã dần trở nên liên hệ với nhau, khiến các nước giàu phải nếm trải nỗi đau trước mắt, trong khi lợi ích thì mãi cho đến hiện nay mới đang bắt đầu hiện ra rõ nét hơn.

Không gì đáng ngạc nhiên khi toàn cầu hóa vấp phải trở ngại, trong bối cảnh quy mô của công cuộc đổi mới bắt nguồn từ việc các nền kinh tế ngày càng kết nối với nhau. Điều đáng kinh ngạc ở đây là tại sao lại xảy đến ngay lúc này.

Đó là bởi vì tiến trình toàn cầu hóa – trong hình dạng mà chúng ta từng biết đến – đã chững lại suốt một thập kỷ qua. Thực tế đó đã đặt kinh tế toàn cầu trước rủi ro bị thiết lập lại trước các lực tác động gần đây – bao gồm hành động đánh thuế lên nhôm thép và tuyên bố sẽ trừng phạt Trung Quốc mà Tổng thống Trump vừa đưa ra.

Làn sóng phản đối diễn ra sau khi thế giới đã phải nếm trải đau đớn từ tiến trình toàn cầu hóa. Và ngay khi hàng tỷ người trên thế giới – những người đã và đang dần hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu trong suốt 3 thập kỷ qua – đang bắt đầu giàu có lên, đủ để trở thành những khách hàng quan trọng.

Tóm lại, làn sóng chống toàn cầu hóa đang lan rộng khắp các nước phương Tây có lẽ đã diễn ra sai thời điểm - quá trễ để có thể cứu vãn được tình trạng mất việc làm, nhưng lại diễn ra quá sớm dẫn đến việc hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của các nước phát triển cho tầng lớp trung lưu đang nở rộ nhanh chóng trên toàn cầu có thể bị tổn hại.

Sẽ thật hấp dẫn khi toàn cầu hóa là một quá trình liên tục, nhưng lịch sử đã chứng minh không phải như vậy. Tiến trình đó diễn ra từng đợt, và đôi khi còn đảo chiều. Thập niên 1990 và những năm đầu của thập niên 2000 là một trong những giai đoạn khác thường này, khi mà các nền kinh tế trở nên kết nối với nhau, được dẫn chứng bằng một loạt số liệu.

Hiện nay, toàn cầu hóa đã bước vào giai đoạn mới, giai đoạn mà hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các nước diễn ra đều đặn và là một phần không thể thiếu trong mỗi nền kinh tế, trong khi dòng chảy của vốn đầu tư lại giảm đi, ở mức còn thấp hơn thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong bối cảnh hiện nay, với việc công nghệ thông tin bùng nổ, tầng lớp lao động ở các quốc gia phát triển sẽ bị tác động khác hơn so với giai đoạn trước.

Đầu thập niên 1990, công nghệ truyền thông và vận tải biển phát triển đã góp phần làm cho hoạt động thuê ngoài (outsourcing) ra toàn cầu trở nên khả thi hơn. Cùng với việc ra đời của các thỏa thuận thương mại, hoạt động giao thương quốc tế cũng được giảm bớt các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Và rất nhiều quốc gia đã từng kém phát triển cũng dần trở nên hội nhập với kinh tế thế giới, nổi lên trong đó có Trung Quốc.

Thay đổi trên đã đem lại cho các nước giàu rất nhiều mặt hàng giá cả phải chăng, mở ra nhiều cơ hội thị trường mới, nhưng đồng thời, cũng gây hại một số vùng và khu vực công nghiệp nhất định, đặc biệt ở những ngành sản xuất không đòi hỏi cao về mặt công nghệ. Lực lượng lao động ở các bang công nghiệp Mỹ và các nước châu Âu đang phải cạnh tranh với công nhân lắp ráp đồ điện tử đến từ Trung Quốc, nhân viên trực tổng đài đến từ Ấn Độ, cũng như công nhân lắp ráp ô tô đến từ Đông Âu, Mexico và nhiều nước khác.

Theo số liệu do McKinsey cung cấp, tỷ trọng hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ trong tổng hoạt động kinh tế quanh quẩn ở mức 16% trong suốt thập niên 1980 và những năm đầu thập niên 1990, sau đó tăng vọt lên 31% từ năm 1993 đến năm 2008. Còn từ năm 2008 trở đi, tăng trưởng bắt đầu chựng lại và xập xình quanh tỷ lệ đó.

Nếu nhìn vào số liệu về dòng vốn quốc tế, kết quả thậm chí còn ảm đảm hơn. Dòng vốn đầu tư xuyên quốc gia đạt đỉnh năm 2007 khi chiếm 22% trong tổng GDP toàn cầu, nhưng đến năm 2016 chỉ còn có 6%, gần bằng mốc của năm 1996.

Quá trình toàn cầu hóa mới

Susan Lund, một chuyên gia về vốn đầu tư quốc tế tại McKinsey nhận định “Điều thú vị là, việc đánh thuế lên thép, nhôm hay bất kỳ sản phẩm nào khác lại là trận đánh cuối cùng, chứ không phải là trận đánh đầu tiên. Bản thân nền sản xuất trên thế giới vốn đã được định hình lại. Thay đổi đó đã diễn ra. Chúng tôi không cho rằng toàn cầu hóa đã kết thúc, chỉ là tiến trình đó đang diễn ra dưới một mô thức mới mà thôi”.

Quá trình toàn cầu hóa mới bao gồm một sự kết nối và truyền thông ở cấp độ cao hơn, mà không thể đo lường bằng số liệu như dòng chảy vốn hay thương mại được. Chúng được thể hiện qua việc ngày càng có nhiều người sử dụng các nền tảng mạng xã hội để kết nối với người dân ở các quốc gia khác, các công ty phụ thuộc vào lao động tự do đóng ở khắp nơi trên thế giới, và các doanh nghiệp nhỏ có thể làm ăn với các đối tác quốc tế thông qua Internet.

Nói cách khác, mô hình toàn cầu hóa mới sẽ không đe dọa đến việc làm trong nhà máy, mà đặt ra thách thức cho phân khúc lao động khác – đó là lực lượng cổ cồn trắng trong các ngành công nghiệp tiên tiến, đồng thời cũng tạo ra vô số cơ hội mới cho các công ty của Mỹ và các nước Tây Âu. Điều này giúp giải thích tại sao Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) – hiệp định mà ông Trump đã Mỹ ra khỏi – lại tập trung vào vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền an toàn và riêng tư cho dữ liệu.

Nhà kinh tế học David Autor của M.I.T và các đồng nghiệp của mình đã hoàn thành một công trình nghiên cứu cho thấy “cú sốc Trung Quốc” – xảy ra từ khi nước này bắt đầu gia nhập WTO – đã gây ra nổi đau kéo dài cho các cộng đồng người ở Mỹ đang phải cạnh tranh với doanh nghiệp Trung Quốc trong sản xuất hàng hóa chế tạo.

Ông Autor cho rằng, mặc dù các tác động này vẫn còn đó, có dấu hiệu cho thấy rủi ro trong giao thương với Trung Quốc đang dịch chuyển qua phân khúc khác. “Cú sốc Trung Quốc lên hàng hóa sản xuất hàng loạt và các tác động lên việc làm đã qua đi. Còn giờ đây, Trung Quốc lại chuyển hướng cạnh tranh sang các sản phẩm công nghệ cao, như ô tô, máy bay hay vi mạch. Vai trò sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động cao và ít phức tạp về công nghệ, như hàng dệt may, đã được chuyển sang các nước có mức lương thấp hơn như Bangladesh và Ethiopia.

Nhưng việc thay đổi nơi sản xuất không ảnh hưởng đến tính kết nối toàn cầu đang ngày càng gia tăng về cấp độ. Mức độ hội nhập kinh tế vẫn giữ nguyên, thậm chí khi chi tiết bên trong (nước nào sản xuất những mặt hàng gì) đang thay đổi.

Ông Autor cho rằng sẽ không có việc thế giới quay trở lại thời kỳ khi mà các sản phẩm có hàm lượng lao động cao và ít sử dụng máy móc được sản xuất ở Mỹ. “Tôi nghĩ chúng ta nên chuẩn bị sẵn sàng cho thách thức thực sự - cuộc chiến trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và các ngành công nghiệp dẫn đầu”.

Các nỗ lực của chính quyền Trump nhằm gây sức ép lên Trung Quốc, nếu thành công, có thể là một bước đi trong cuộc chiến đó. Nhưng những hành động đó của Mỹ lại đi kèm với việc đánh thuế lên nhôm và thép – động thái được cho là nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp trong nước. Cách tiếp cận của chính quyền Trump có thể gây ra tác dụng ngược nếu kéo theo một chuỗi các quyết định trả đũa qua lại giữa các nước lên nhiều loại hàng hóa, làm suy yếu nền thương mại toàn cầu mà lại không giải quyết được vấn đề cốt lõi trong những ngành công nghiệp có hàm lượng thông tin cao.

Nếu cuộc trạm chán mới nhất này rốt cuộc chuyển thành chiến tranh thương mại, thì những rào cản mới này trong thương mại quốc tế có thể ngăn cản tiến trình toàn cầu hóa gặt hái thành quả được dự báo bấy lâu: một thế giới nơi mà mọi người đều là khách hàng của nhau. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng là câu chuyện chung của hàng trăm triệu người đang kết nối với nhau trong nền kinh tế toàn cầu hóa và đang có được tiêu chuẩn sống cao hơn từ quá trình đó.

Homi Kharas – một chuyên gia cao cấp thuộc Viện Brookings – đã nghiên cứu về sự trỗi dậy của tầng lớp trung lưu trên toàn cầu. Trong nghiên cứu của mình, ông Kharas thống kê những người có thu nhập tối thiểu là 10USD/người/ngày vào năm 2005, tương ứng với tổng thu nhập 19,000 USD/năm đối với hộ gia đình 4 người, có sự điều chỉnh theo giá USD năm 2018.

Trong năm 1990, chỉ có 23% dân số thế giới nằm trong danh mục này. Còn ngày nay, tỷ lệ đó là 45%, có nghĩa là có thêm 2.3 tỷ dân đã có thể chi trả cho các hàng hóa xa xỉ mà nền kinh tế toàn cầu đem lại: thức ăn dồi dào, vận tải cơ giới hóa, điện thoại di động và nhiều tiện ích tương tự khác.

Bằng thống kê trên, ông Kharas lập luận, thật sai lầm khi cho rằng hàng tỷ người dân này phải cạnh tranh để có được việc làm tốt.

“Những gì chúng ta đang chứng kiến đó là tầng lớp trung lưu đang nổi lên, kéo theo một nhu cầu khổng lồ đối với mọi loại dịch vụ. Nào là phim ảnh Hollywood, Bollywood hay Hong Kong, gà rán KFC hay McDonald, hay các ứng dụng internet, hay nhu cầu về bảo hiểm, ... Các nhu cầu trên gây ra thay đổi lớn lên cấu trúc kinh tế toàn cầu, bao gồm các loại hàng hóa tiêu dùng mà Hoa Kỳ chuyên sản xuất.”

Nói cách khác, hiện nay, toàn cầu hóa không nên được xem là nguyên nhân khiến cho lao động Mỹ đang phải đối mặt với tình trạng cạnh tranh về việc làm– thậm chí khi điều đó có vẻ đúng cho giai đoạn 1990 và đầu 2000 khi thương mại tăng trưởng nhanh hơn tốc độ bình quân của kinh tế.

Hơn nữa, mọi người vừa là khách hàng của nhau, vừa là đối thủ của nhau. Với việc các cuộc chiến thương mại đang có nguy cơ diễn ra trong tương lai gần, câu hỏi mở là liệu Hoa Kỳ và châu Âu – các nước từng gánh chịu thiệt hại từ việc cạnh tranh với các nền kinh tế đang phát triển, sẽ vẫn kiên định mở cửa thương mại đủ để tận hưởng được thành quả của nó hay không.

Nguồn: New York Times

Từ khóa: làn sóng phản đối, toàn cầu hóa, sai thời điểm

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008764487
Go to top