
Trong lúc khu vực châu Mỹ và châu Âu đắm chìm trong lo âu, nhiều quốc gia đang phát triển đang đầy lạc quan tiến lên phía trước.
Căn bệnh mà toàn cầu hóa đem lại không chỉ là tình trạng mất việc làm thông qua hàng hóa nhập khẩu và các công ty đa quốc gia, mà còn là sự truyền bá và pha trộn tư tưởng, lối sống, văn hóa và nỗi sợ, được lây truyền qua con đường Internet.
Nhân loại đang phát triển một hình thái ý thức mới, mang tên “ý thức toàn cầu” – một tâm lý nhạy cảm chung trước các tư tưởng vĩ đại cũng như nhạy cảm với nỗi sợ hãi và chủ nghĩa bảo hộ. Cũng giống như con đường mà phong cách áo hở vai thịnh hành từ Milan hay âm nhạc Gangnam từ Seoul du nhập vào các hộ gia đình làm nông ở ngoại ô Bombay hay Basra, tư tưởng cũng đang được truyền bá từ quốc gia này sang quốc gia khác, kéo theo tình trạng nhập nhằng hoặc xung đột về văn hóa.
Tâm lý chống toàn cầu hóa bắt nguồn từ nhiều nguồn cơn khác nhau. Ở các nước đang phát triển, phản ứng này bắt nguồn từ việc lo ngại toàn cầu hóa đe dọa đến truyền thống dân tộc, do sự du nhập ồạt của hàng hóa và luồng tư tưởng từ nước ngoài.
Ngày lễ tình nhân là một ví dụ. Thánh Valentine của nước Ý, sinh năm 226 mất năm 278 trước công nguyên, là một người không mấy nổi bật trong số hơn 10,000 vị thánh cơ đốc giáo. Mãi cho đến những năm 1850, khi các chủ buôn người Mỹ bắt đầu thương mại hóa thiệp chúc mừng, hình ảnh của ông mới được biết đến. Vào giữa thế kỷ 20, ngày Valentine chỉ được biết đến ở Mỹ và Anh. Nhưng ngày nay, mỗi khi đến ngày 14/2, ở các nước châu Á, người ta tụ tập ở các trung tâm mua sắm, đi ăn nhà hàng hoặc đi xem các buổi biễu diễn để kỷ niệm một nhân vật thần thoại từ hàng thế kỷ trước và cách họ nửa vòng trái đất.
Tầng lớp trung lưu ở châu Á thích có thêm những ngày lễ bên cạnh các ngày lễ truyền thống ở nước mình, nhưng không phải tất cả người châu Á đều có chung suy nghĩ đó. NhưẤn Độ, nước này có thái độ bài xích ngày Valentine. Nhóm người theo đạo Hindu phản đối sự du nhập của các tập tục nước ngoài, xem đó là nguyên nhân làm xói mòn văn hóa truyền thống.
Ở các quốc gia giàu có hơn, những người lao động bị sa thải ở vành đai công nghiệp thuộc bang Ohio hoặc ở nước Pháp đổ lỗi cho toàn cầu hóa vì đã gây ra nỗi bất hạnh, tình trạng mất việc làm và trì trệ kinh tế.
Việc làm và lương
Một phân tích bởi Viện toàn cầu McKinsey kết luận rằng ở 6 quốc gia công nghiệp phát triển, phần lớn các hộ gia đình đã chứng kiến mức lương và thu nhập từ các khoản đầu tư không tăng hoặc thậm chí là giảm xuống trong 15 năm qua. Lo ngại chính đáng này đã được một vài chính trị gia khai thác và phóng đại về tác hại của toàn cầu hóa lên nền kinh tế.
Người lao động ở Mỹ và châu Âu phải làm việc vất vả hơn với tâm lý lo sợ, bởi vì họ phải cạnh tranh khốc liệt trên thị trường lao động, với áp lực phải tạo ra được năng suất cao hơn. Ngoài ra, họ còn rơi vào trạng thái buông xuôi, chán nản do không thể tin rằng họ có thể sống tốt hơn so với thế hệ trước, khi mà nền kinh tế đã phát triển quá nhanh trong hai thế kỷ trước.
Nỗi lo sợ về việc làm và mức lương là có thật, mặc dù có thể đã bị làm quá lên bởi một số chính trị gia – những người đang muốn đổ lỗi cho thương mại quốc tế, cho tình trạng di dời sản xuất ra nước ngoài và cho tình trạng nhập cư đang cướp đi việc làm của người bản xứ.
Các nhà nghiên cứu kết luận, trong giai đoạn 1980 đến 2016, cứ mỗi 1 việc làm ở Mỹ mất đi vì thương mại quốc tế, sẽ có khoảng 4 việc làm bị mất đi vì nguyên nhân tự động hóa, robot hóa, công nghệ thông tin và các yếu tố thúc đẩy khác trong năng suất.
Hơn cả thương mại quốc tế, tự động hóa mới là nguyên nhân chính làm tăng năng suất ở Mỹ, làm lợi cho 3 nhóm người trong xã hội: người tiêu dùng - vì phải trả tiền ít hơn, người quản lý - vì kiếm được thu nhập cao hơn, và cổ đông - vì được hưởng cổ tức và vốn chủ sở hữu tăng.
Người lao động lại không được lợi gì từ việc tăng năng suất; Lấy ví dụ, lực lượng lao động ở Mỹ và Pháp đã giảm hơn 10%. Hiện nay, hầu hết công nhân chỉ hi vọng có thể giữ được việc làm với mức lương bằng mức lương trước đây.
Bên phía nhập khẩu, thương mại quốc tế là nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất việc làm, nhưng với mức độ ít hơn so với nguyên nhân tự động hóa. Tình trạng mất việc làm do nhập khẩu gây ra có xu hướng tập trung ở một số khu vực địa lý nhất định. Ngược lại, lợi ích từ hàng nhập khẩu giá rẻ lại phân tán đều khắp các khu vực.
Còn về phía xuất khẩu, thương mại quốc tế tạo ra hàng triệu việc làm mới.
Hầu hết các nghiên cứu đều đồng tình, nếu tình bình quân, người nhập cư đem lại lợi ích ròng cho đất nước tiếp nhận về dài hạn. Đây là một niềm an ủi nhỏ cho những ai đang mất việc làm vì tình trạng nhập cư, mà nhiều người trong số họ đều là những người lao động phổ thông với thu nhập thấp. Nỗi đau mất việc chỉ tập trung ở một số ít lao động, trong khi lợi ích mà người nhập cư và hàng hóa nhập khẩu đem lại (từ hàng giá rẻ đến các sản phẩm công nghệ cao) lại phủ rộng cho toàn bộ dân số.
Doanh nghiệp kiếm lợi trên sự sợ hãi và chia rẽ
Trong chiến thắng vừa qua của lực lượng phản đối toàn cầu hóa tại cuộc bầu cử tổng thống Mỹ và tại cuộc trưng cầu dân ý về Brexit, có một điều trớ trêu là những vùng mà người nhập cư rất hiếm như Wyoming hay Lincolnshire, cử tri ở đây là mục tiêu lý tưởng để giới chính trị phao tin, và số phiếu bầu vì vậy mà về tay các chính trị gia theo chủ nghĩa dân tộc.
Ngược lại, ở khu vực thành thị, nơi tập trung tầng lớp trí thức nhiều hơn khu vực xa trung tâm, dân chúng ở đây lại ít bịảnh hưởng về tư tưởng và vấn đề sắc tộc hơn.
Trong ngành bảo hiểm nhân thọ, xác suất một người Mỹ bị giết chết bởi một kẻ khủng bố được sinh ra ở nước ngoài là 1 trên 60,000. Tỷ lệ tử vong này là rất nhỏ nếu so với tỷ lệ tử vong do bị sét đánh hay gặp bão.
Thế nhưng, khi người dân sợ hãi, đây sẽ là thời cơ tốt để doanh nghiệp kiếm lời và để các chính trị gia triển khai các kế hoạch chính trị. Năm 2000, người Mỹ nhận phần lớn tin tức từ những nguồn đáng tin cậy như Thời báo New York; người dân Anh thì dựa vào đài BBC và Thời báo London. Còn ngày nay, rất nhiều người chuyển sang đọc tin trên Facebook, Twitter, tin từ gia đình và bạn bè. Niềm tin vào các đơn vị truyền thông đã bị xói mòn, đến mức mà các chính trị gia có thể công khai chế nhạo các kênh tin tức truyền thống.
Thuật toán cho phép các trang phương tiện xã hội dò tìm xu hướng của người dùng và hướng người dùng đến các nguồn tin đang được mạng xã hội yêu thích.
Các thuật toán này duy trì những bộ lọc biết tự làm giàu dữ liệu, nhờ đó sẽ thu hút và giữ chân người xem bằng cách đưa ra các tin mà người dùng thích, trong khi giảm bớt các tin tức không thuận tai hoặc không dễ chịu đối với một người dùng cụ thể.
Nhờ đó, các thuật toán giúp gia tăng lượt xem và doanh thu quảng cáo, nhưng lại cách ly cộng đồng thành nhiều cụm khác nhau, hình thành nên các nhóm xung đột ở Mỹ, châu Âu, hay thậm chí là Thỗ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ.
Internet không có lỗi trong việc này, mà chính động cơ lợi nhuận đã khiến các các doanh nghiệp chạy theo phục vụ số đông và bỏ quên trách nhiệm của nghề làm báo.
Chìm hay bơi
Toàn cầu hóa vẫn chưa thoái lui, bất chấp các xu hướng bài xích trên thế giới và sự chững lại trong tăng trưởng thương mại từ năm 2005 trở lại đây.
Khi chủ nghĩa dân tộc gia tăng, chính phủ các nước có thể tăng cường biện pháp bảo hộ cho một số loại hàng hóa, một số nước có thể cầm chừng hoặc giảm thiểu số lượng người nhập cư, nhưng gần như không có một quốc gia nào từ chối các khoản đầu tư nước ngoài.
Dữ liệu xuyên biên giới và dòng thông tin truyền thông phát triển rất nhanh. Trong khi khu vực châu Âu và châu Mỹ đầy rẫy lo âu, thì tình hình ở các quốc gia đang phát triển lại hết sức lạc quan tiến lên phía trước.
Hai thị trường khổng lồ trên thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ đã vượt xa khỏi điểm bão hòa về sản phẩm nhập khẩu và tư tưởng ngoại. Dự án Một vành đai – Một con đường của Bắc Kinh nhằm kết nối Trung Quốc với châu Ấu và Đông Nam Á đã xây dựng thêm hàng ngàn km đường bộ và đường ray, cùng một một chuỗi các cảng biển dọc theo Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á, với 70 nước mới nổi là thành viên, có nguồn vốn góp lên đến 100 tỷ USD để tài trợ cho các dự án ở châu Á và châu Phi.
Sự lựa chọn là ở chúng ta
Toàn cầu hóa bị cáo buộc gây ra tình trạng mất việc làm, gây ra các cú sốc văn hóa và chủ nghĩa bài ngoại, nhưng chính cuộc sống hiện đại và các ngành công nghiệp mới là nguyên nhân thay đổi bản chất công việc và phong cách sống của người dân.
Sức mạnh của các công đoàn lao động đã bị thu hẹp lại, các cân xã hội nghiêng về người chủ sở hữu, nhà quản lý và người tiêu dùng – những người có nhu cầu về hàng hóa giá rẻ. Trước thập niên 1980, các công đoàn trong một vài khu vực sản xuất có lẽ đã được trao quyền thái quá, dẫn đến tình trạng kém hiệu quả và lợi nhuận nghèo nàn.
Mỗi một xã hội phải tìm ra điểm cân bằng hợp lý để phân bổ lợi ích giữa người lao động, người tiêu dùng, ban điều hành và cổ đông.
Toàn cầu hóa là một biểu hiện cho ham muốn và tham vọng của con người muốn tăng cường sự kết nối hơn bao giờ hết để đem đến thịnh vượng cho xã hội, và tất nhiên, cũng đi kèm với nỗi đau và vấp phải sự phản đối.
Nếu chỉ tập trung vào hệ quả tiêu cực từ toàn cầu hóa là vô tình phủ nhận cả những thành tựu mà toàn cầu hóa đem lại.
Nguồn: dhakatribune.com - TQ
Từ khóa: toàn cầu hóa, tư tưởng, văn hóa, mất việc làm, sợ hãi
Các tin khác
- Seoul và Washington kết thúc vòng đám phán thứ hai về FTA Hàn-Mỹ - 07/02/2018
- Doanh nghiệp gỗ lo bị “hớt tay trên” - 07/02/2018
- Mỹ giảm thuế, Việt Nam lo FDI rút: Không thể chiều tiếp? - 06/02/2018
- Ngành ô tô Anh Quốc: Thỏa thuận thương mại với Mỹ có thể vô dụng - 06/02/2018
- Trung Quốc siết chuỗi ngọc trai, Ấn Độ cay đắng nhìn chiến lược của Bắc Kinh "lột xác" ở sân sau - 06/02/2018






















