
Nếu nói lợi ích ròng từ việc tăng cường giao thương và giảm thiểu bảo hộ là quá rõ ràng, vậy thì tại sao vẫn còn một đại bộ phận dân chúng ở các quốc gia như Hoa Kỳ và Vương Quốc Anh lại kịch liệt phản đối xu hướng đó? Chúng ta có thể làm gì để xoa dịu những cơn giận dữ và những mối bất an, phải làm gì để duy trì tăng trưởng xuất phát từ tăng cường hoạt động thương mại quốc tế? Những câu hỏi này đang đánh đố những người đứng đầu doanh nghiệp trong khu vực châu Á.
Tại Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC (ABAC), một bầu không khí lo ngại bao trùm kể từ sau Donald Trump chiến thắng đáng kinh ngạc trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ hồi tháng 11 năm ngoái. Phần lớn đều cho rằng, nếu tổng thống Donald Trump triển khai thành công chính sách kinh tế “Nước Mỹ trên hết” mang đầy tính chủ nghĩa dân tộc – một chính sách sẽ bảo bọc cho các công ty trong nước và khiêu chiến với bất kỳ quốc gia nào đang có thâm hụt thương mại lớn với Washington – thì cộng đồng doanh nghiệp trên khắp thế giới sẽ bị tổn hại nặng nề, tăng trưởng và việc làm cũng sẽ bị đe dọa giống như những gì đã diễn ra 80 năm về trước, khi nước Mỹ chỉ vừa mới bắt đầu vực dậy sau cuộc Đại suy thoái tồi tệ nhất lịch sử.
Vì vậy, ngay từ đầu năm, các nhà lãnh đạo ABAC khi lên kế hoạch cho năm 2017 đã đặt ra hai nhiệm vụ quan trọng nhất: kiểm nghiệm xem lòng tin lâu dài đối với việc mở cửa thương mại và đầu tư thực sự có cơ sở hay không; tìm hiểu nguyên nhân tại sao có quá nhiều người phản đối xu thế tự do hóa thương mại, và cần phải làm gì để giải quyết lo ngại của họ.
Các nhà lãnh đạo ABAC đã giao nhiệm vụ cho nhóm nghiên cứu đến từ trường Marshall thuộc Đại học Nam California. Nhóm nghiên cứu phải làm rõ những câu hỏi này trong phạm vi 21 nền kinh tế APEC và báo cáo tại Đà Nẵng trong thời gian diễn ra Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo APEC mới diễn ra trong vài tuần trước.
Kết quả nghiên cứu mặc dù có thể đoán được, nhưng cũng không kém phần thú vị.
Câu hỏi đầu tiên thực sự rất dễ trả lời: “Không một nền kinh tế nào trong thời hiện đại có thể duy trì tăng trưởng kinh tế mà không cần khai thác lợi ích từ thương mại và tiến bộ kỹ thuật”. Chỉ riêng số liệu từ các tổ chức kinh tế đáng tin cậy cũng đủ để ủng hộ thực tế rằng, mở cửa thương mại và đầu tư giúp mang lại lợi ích ròng to lớn.
Nhưng có một vấn đề: lợi ích ở đây là lợi ích “ròng”. Nhóm nghiên cứu lưu ý “Lợi ích từ tự do hóa thương mại có thể bị khuếch tán, phân phối không đồng đều và có độ trễ”, vì vậy, trong một thời điểm nhất định, tự do hóa có thể “tác động tiêu cực lớn đến một vài cá nhân, nhóm doanh nghiệp hoặc khu vực”.
Toàn cầu hóa không giúp gì nhiều các nền kinh tế lớn như là Mỹ, quốc gia chỉ có 1% doanh nghiệp thực sự tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế. Mặc dù tác động của 1% này cũng rất lớn trong việc giúp các doanh nghiệp trong nước hạ thấp giá thành và giúp người tiêu dùng giảm bớt chi phí mua sắm, tác động này chỉ mang tính gián tiếp và không được đánh giá cao bởi hầu hết doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Và trong khi các nền kinh tế như Hong Kong và Singapore được cho là hưởng lợi nhiều hơn từ toàn cầu hóa, với hơn 70% doanh nghiệp trong nước hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, đây cũng chỉ là những trường hợp ngoại lệ chứng minh cho lợi ích từ toàn cầu hóa.
Thậm chí cho dù toàn cầu hóa phải chịu trách nhiệm một phần cho tình trạng mất việc làm, nhìn chung, thương mại bị “xô ngã” bởi hai lực đẩy mạnh mẽ hơn: thứ nhất là cuộc suy thoái kéo dài 10 năm qua, theo sau sự sụp đổ của thị trường tài chính Mỹ năm 2007; thứ hai là những cuộc cách mạng công nghiệp bắt nguồn từ cuộc cách mạng công nghệ đang leo thang.
“Các nền kinh tế APEC đã phụ thuộc quá nhiều vào tăng trưởng kinh tế trong tương lai có thể dự báo trước để giảm thiểu các tác động ngược chiều và tạo ra những cơ hội mới cho người dân, giờ đây đang chứng kiến sự bất mãn ngày một tăng, và bộ phận dân chúng bị tước quyền bầu cử cũng ngày một đông thêm”, nhóm nghiên cứu trường Marshall cho biết tại báo cáo.
“Bên trong các nền kinh tế APEC, thái độ bất mãn và thất vọng đang len lỏi ở khắp các tầng lớp. Đây là một hiện tượng có thật và không thể xem thường. Việc mất lòng tin chủ yếu là do sự kém hiệu quả của các chính sách trong nước trong việc đối phó với các tác động tiêu cực từ thay đổi công nghệ, tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa”.
Vấn đề còn trở nên trầm trọng hơn do tác động khuếch đại từ các phương tiện xã hội, khiến cho tất cả mọi người cảm nhận rõ rệt hơn về làn sóng bất công và nguy cơ mất việc làm.
Nghiên cứu đổ lỗi cho các doanh nghiệp vì đã không thấy được tình trạng bất công leo thang, phớt lờ tình trạng người lao động không nhận được lợi ích và ỷ y rằng việc giúp đỡ những người bị bỏ lại phía sau là nhiệm vụ của các cơ quan chính phủ.
Trong số các nền kinh tế APEC, bài nghiên cứu chỉ ra năm quốc gia có mức độ bất công cao, thiếu niềm tin vào chính phủ, cơ chế chính sách điều chỉnh chưa đầy đủ và hoạt động truyền thông nghèo nàn không bắt kịp nhịp thay đổi đang ảnh hưởng đến toàn bộ khối APEC, từ đó gia tăng rủi ro xuất hiện các cuộc tấn công ác ý nhằm vào toàn cầu hóa và thương mại tự do. Năm quốc gia đó bao gồm Philippines, Mexico, Papua New Guinea và cuối cùng, như dự đoán, là Hoa Kỳ.
Mặc dù được xem là nền kinh tế có rủi ro thấp, Hong Kong không nên tự mãn, vì thành phố này vẫn tồn tại bất cập như việc điều chỉnh chính sách kinh tế kém hiệu quả, lòng tin vào chính phủ đang xói mòn dần và là nước có sự bất cân xứng thu nhập cao nhất giữa các nền kinh tế APEC.
Thông điệp từ bài nghiên cứu là khá rõ.
Từ trước đến nay, chính phủ các nước đã không làm tốt việc giải thích về những thay đổi căn bản đang diễn ra xung quanh chúng ta, với một hệ thống giáo dục mà phần lớn đã không còn vừa vặn với mục đích trang bị kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp trong tương lai cho người dân. Hệ thống giáo dục còn thiếu khả năng phổ biến các kiến thức mang tính lâu dài mà chúng ta sẽ rất cần trong thời đại mà công nghệ đang thay đổi quá nhanh.
Doanh nghiệp đã ỷ y phó mặc cho các cơ quan nhà nước giải quyết các bất cập trên và không nỗ lực điều chỉnh. Nếu chúng ta đang làm công tác thuyết phục cử tri phổ thông ủng hộ cho tiến trình toàn cầu hóa và mở cửa thương mại trong thời gian tới, chúng ta sẽ phải tập trung nhiều hơn và tính công bằng và sự bao trùm. Chúng ta phải tham gia trực tiếp hơn nữa vào việc cơ cấu lại hệ thống giáo dục và đào tạo để đảm bảo thành phần lao động bị đào thải bởi những thay đổi có thể nhanh chóng được đào tạo lại, để phục hồi lại sự tự tin và sự an toàn cho lực lượng lao động.
Báo cáo cũng lưu ý chính phủ các nước đã tập trung quá nhiều vào hệ thống an sinh xã hội, trong khi hệ thống này chỉ có thể bảo vệ tổn thất của lực lượng lao động trước các thảm họa kinh tế, nhưng không làm gì để giúp lực lượng lao động hồi phục trở lại. Vì lí do đó, các nước nên chú trọng đến các chương trình hỗ trợ nghề nghiệp (spingboards): “Các chương trình an sinh xã hội cũng rất quan trọng, nhưng chỉ là một biện pháp cứu cánh trong ngắn hạn. Chính phủ các nước cần đầu tư cho các chương trình hỗ trợ nghề nghiệp sáng tạo, trang bị cho người dân về việc làm của tương lai”.
Những kết luận trong nghiên cứu của trường Marshall tuy là không quá khó đoán nhưng cũng rất quan trọng và được hoan nghênh. Và một thực tế đáng buồn là khi chúng ta bước sang năm 2018, sự hoài nghi về thương mại tự do vẫn còn rất lớn và mạnh mẽ hơn lúc nào hết. Chính quyền của Tổng thống Trump vẫn rất đanh thép trong việc sử dụng các biện pháp bảo hộ để đem lại việc làm cho người dân Mỹ và để cắt giảm thâm hụt thương mại – bất kể các biện pháp trên thật ngây thơ và làm tổn hại cho tình hình trong nước và quốc tế.
Đối với những ai trong số chúng ta tin tưởng vào quá trình mở cửa và tự do thương mại và nhận thấy được lợi ích của quá trình đó, còn rất nhiều việc phải làm để lấy lại niềm tin từ những người hoài nghi.
Nguồn: South China Morning Post – TQ
Từ khóa: châu Á, toàn cầu hóa, bất công, Trump
Các tin khác
- Mở rộng thị trường xuất khẩu tôm: Bài 2: Chú trọng chất lượng vùng nuôi - 28/11/2017
- Ngành đường và nỗi lo hội nhập 2018 - 28/11/2017
- Xuất khẩu gỗ và nỗi lo phía trước - 28/11/2017
- Cân bằng lợi ích sau 25 năm hợp tác Việt - Hàn - 28/11/2017
- Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân dự Đối thoại doanh nghiệp Việt Nam-Singapore - 28/11/2017






















