JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnTổng hợp, phân tích hiệp định TPP trong tháng 8/2016

Tổng hợp, phân tích hiệp định TPP trong tháng 8/2016

TPP

Trong tháng 8/2016, tin tức phân tích hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) khá tích cực.

Philippines mong muốn tham gia TPP

Bộ trưởng Thương mại Philippines (Phi-líp-pin) Ramon Lopez nhận định.Đối với Philippines, TPP sẽ mở cửa các thị trường Bắc Mỹ và Nam Mỹ cho hàng hóa của Philippines.

Bộ trưởng Thương mại Philippines (Phi-líp-pin) Ramon Lopez vừa nói rằng Philippines muốn tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương ( TPP ) và đã có các cuộc đàm phán không chính thức với Mỹ về vấn đề này.

Trả lời phỏng vấn của hãng tin Reuters ngày 4/8 bên bề Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) tại Viêng Chăn (Lào), ông Lopez cho hay các ngành nghề chủ chốt sẽ hưởng lợi từ TPP là công nghiệp điện tử, ô tô và dệt may. Theo ông Lopez, nếu không tham gia TPP thì Philippines có thể bỏ lỡ một số cơ hội trong khi các nước khác có thể tận dụng.

Theo ông Lopez, Chính phủ mới của Philippines sẽ tiếp tục chính sách tham gia tối đa các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và đã có các cuộc đàm phán không chính thức với Mỹ. Ông Lopez nhận định Philippines đang ở trong vị thế thuận lợi để tham gia và đã ký FTA với các nước. Đối với Philippines, TPP sẽ mở cửa các thị trường Bắc Mỹ và Nam Mỹ cho hàng hóa của Philippines.

Trong khi đó, theo ông John Goyer, Giám đốc cao cấp phụ trách khu vực Đông Nam Á của Phòng Thương mại Mỹ, Chính phủ mới của Philippines đã có những tín hiệu tích cực kể từ sau khi ông Rodrigo Duterte giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống hồi tháng 5/2016.

TPP được coi là thỏa thuận thương mại lớn nhất của thể kỷ 21 với thị trường có 800 triệu dân và chiếm 40% thương mại thế giới. Đặc biệt, TPP sẽ hướng tới cắt giảm thuế mạnh đối với các thị trường như Mỹ và bao trùm khu vực có tổng GDP trị giá 28.000 tỷ USD.

Pháp luật của Việt Nam và tác động của hiệp định TPP

Chương Sở hữu trí tuệ đặt ra những nghĩa vụ có tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh ở Việt Nam và các nước tham gia TPP.

1. Tổng quan                                       

Chương Sở hữu trí tuệ - Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ký ngày 04/02/2016) đặt ra những nghĩa vụ có tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh ở Việt Nam và các nước tham gia TPP.

Với mục tiêu chung của toàn bộ Hiệp định TPP, Chương Sở hữu trí tuệ (SHTT) nâng cao yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ so với chuẩn mực quốc tế phổ biến hiện nay là Hiệp định TRIPS của WTO.

Về phạm vi nghĩa vụ, Chương SHTT của Hiệp định TPP tương tự như Hiệp định TRIPS: Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, sáng chế, giống cây trồng, kiểu dáng công nghiệp và thông tin bí mật (dữ liệu thử nghiệm dược phẩm và nông hóa phẩm), và một vài đối tượng có thể liệt vào phạm trù chống cạnh tranh không lành mạnh (tên quốc gia, tên miền Internet); và bên cạnh tiêu chuẩn bảo hộ từng loại quyền sở hữu trí tuệ là tiêu chuẩn thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, nội dung các tiêu chuẩn này (là bản chất nghĩa vụ bảo hộ SHTT theo Hiệp định TPP) cao hơn Hiệp định TRIPS, thường gọi là TRIPS “cộng”.

So với pháp luật hiện hành của ta về SHTT, có nhiều cam kết hoàn toàn phù hợp với pháp luật, hoặc phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước, mặc dù chưa được quy định trong pháp luật; nhưng cũng có nhiều cam kết dẫn đến những thay đổi lớn về pháp luật. Tài liệu này tóm tắt những cam kết có tác động  đến môi trường kinh doanh do những thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, kể cả luật hóa các quy định dưới luật và những nguyên tắc, tập quán vốn đã có trong hoạt động quản lý nhà nước.

2. Các nguyên tắc cơ bản về SHTT của Hiệp định TPP

(Phần A, từ Điều 18.1 đến Điều 18.11)

Ngoài việc tuân thủ các nghĩa vụ trong các cam kết quốc tế đã ràng buộc các Bên, quan trọng nhất là Hiêp định TRIPS, mỗi Bên phải dành sự bảo hộ sở hữu trí tuệ phù hợp với chuẩn mực tối thiểu của TPP cho tổ chức, cá nhân của các Bên khác, và không kém mức dành cho tổ chức, cá nhân của mình (nguyên tắc đối xử như công dân).

Hiệp định TPP khẳng định lại rõ ràng các nguyên tắc quan trọng của Hiệp định TRIPS, như mục tiêu bảo hộ cần nhằm tạo ra và phổ biến công nghệ, quyền bảo vệ lợi ích sống còn về sức khỏe và dinh dưỡng của nhân dân (Điều 18.2), trong đó đặc biệt nhấn mạnh Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và sức khỏe cộng đồng (Điều 18.6), cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu trí tuệ và công chúng, chống lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ (Điều 18.3), quyền tự do định đoạt chính sách về nhập khẩu song song (Điều 18.11).

Bên cạnh đó là yêu cầu minh bạch hóa trên Internet quy định pháp luật, các thủ tục và các quyết định hành chính có hiệu lực áp dụng chung liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền SHTT; thông tin đã công bố về đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ đối với quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng (Điều 18.9)…

3.Tiêu chuẩn bảo hộ Nhãn hiệu, Chỉ dẫn địa lý và Tên quốc gia

3.1 Nhãn hiệu (Phần C, từ Điều 18.18 đến Điều 18.28)

(i) Đối tượng bảo hộ: Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nỗ lực để bảo hộ nhãn hiệu mùi (Điều 18.18);

(ii) Điện tử hóa việc quản lý nhãn hiệu: Có hệ thống điện tử đối với đơn đăng ký và duy trì nhãn hiệu và hệ thống thông tin điện tử có thể truy cập, bao gồm dữ liệu trực tuyến về đơn và đăng ký nhãn hiệu (Điều 18.24);

(iii) Đăng ký li-xăng (việc cấp phép sử dụng nhãn hiệu): Không yêu cầu đăng ký li-xăng mà vẫn công nhận hiệu lực của li-xăng và công nhận việc sử dụng nhãn hiệu do bên nhận li-xăng thực hiện cũng như là do chủ sở hữu nhãn hiệu thực hiện (Điều 18.27);

(iv) Tên miền xung đột với nhãn hiệu: Đối với tên miền Internet mã quốc gia trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, phải có cơ chế giải quyết tranh chấp theo hoặc mô phỏng theo nguyên tắc cơ bản trong Chính sách của ICCAN hoặc mô hình đáp ứng các yêu cầu nhất định và chế tài chống đăng ký tên miền nhằm thu lợi không trung thực; và có cơ sở dữ liệu trực tuyến về thông tin liên lạc với chủ tên miền (Điều 18.28).

3.2 Tên quốc gia (Phần D, Điều 18.29)

Chống gây nhầm lẫn: Phải quy định chế tài đối với việc sử dụng tên quốc gia trong thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ hàng hóa.

3.3 Chỉ dẫn địa lý (Phần E, từ Điều 18.30 đến Điều 18.36)

(i) Thủ tục đăng ký chỉ dẫn địa lý không bắt buộc, nhưng nếu có thì phải đáp ứng các yêu cầu như hệ thống đăng ký nhãn hiệu, và hơn nữa phải có cả thủ tục phản đối đơn và thủ tục hủy bỏ đăng ký. (Điều 18.31);

(ii) Tên gọi chung của hàng hóa: Chỉ dẫn địa lý hoặc yếu tố cấu thành chỉ dẫn địa lý đã trở thành tên gọi chung từ trước ở nước nào thì sẽ không được bảo hộ ở nước đó. (Điều 18.32.1 (c), 18.33, 18.34);

(iii) Hủy bỏ/chấm dứt sự bảo hộ:  Không được loại trừ hoàn toàn khả năng hủy bỏ/chấm dứt hiệu lực đăng ký (Điều 18.32.3).

3.4 Quan hệ giữa Chỉ dẫn địa lý và Nhãn hiệu được bảo hộ trước

Nếu có nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý mà nhãn hiệu lại được bảo hộ trước (đã đăng ký trước hoặc đã trở nên nổi tiếng trước) thì việc bảo hộ và sử dụng chỉ dẫn địa lý bị hạn chế bởi quyền của chủ nhãn hiệu:

(i) Sử dụng chỉ dẫn địa lý: Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền ngăn cấm việc sử dụng chỉ dẫn địa lý nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại của hàng hóa (Điều 18.20), tuy nhiên, việc sử dụng chỉ dẫn địa lý vẫn được phép theo trường hợp ngoại lệ (chỉ dẫn địa lý có ý nghĩa mô tả xuất xứ của hàng hóa) (Điều 18.21);

(ii) Bảo hộ chỉ dẫn địa lý: Chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ nếu có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu về nguồn gốc thương mại của hàng hóa (quyền được xác lập theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên) (Điều 18.32.1 (a) và (b)); Tuy nhiên, có thể tồn tại chế độ bảo hộ dẫn địa lý theo đó việc sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ thuộc trường hợp ngoại lệ đối với quyền của nhãn hiệu (Điều 18.21).3.5 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo điều ước quốc tế

(i) Nguyên tắc ký kết điều ước: Phải áp dụng nguyên tắc hạn chế bảo hộ chỉ dẫn địa lý xung đột với nhãn hiệu có trước; tên gọi chung như đối với bảo hộ theo hệ thống quốc gia; Phải có thủ tục công bố thông tin về trình tự và đối tượng được xem xét trong một thời gian hợp lý để cho phép người có lợi ích liên quan phản đối dự định bảo hộ trước khi ký kết điều ước; Không bắt buộc phải có thủ tục hủy bỏ hiệu lực đăng ký, nhưng không được loại trừ hoàn toàn khả năng chấm dứt hiệu lực đăng ký (Điều 18.36.1 và 18.36.3);

(ii) Bổ sung chỉ dẫn địa lý theo điều ước đã ký: Giảm nhẹ nghĩa vụ công bố đối với việc bổ sung chỉ dẫn địa lý theo điều ước có trước TPP (Điều 18.36.2) và không áp dụng nghĩa vụ công bố này đối với các điều ước có trước TPP (tính theo thời điểm kết thúc đàm phán/phê chuẩn/bắt đầu hiệu lực) (Điều 18.36.6).

4.Tiêu chuẩn bảo hộ Sáng chế, Dữ liệu bí mật

4.1 Sáng chế

(i) Đối tượng bảo hộ: Đối với một sản phẩm đã biết, không bắt buộc phải bảo hộ công dụng mới (sáng chế dạng sử dụng) nếu đã lựa chọn bảo hộ một trong hai đối tượng khác, là phương pháp sử dụng mới hoặc quy trình sử dụng mới (Điều 18.37.2);

(ii) Ân hạn tính mới: Ân hạn nộp đơn đối với sáng chế đã được công bố là 12 tháng tính từ ngày công bố sáng chế tại bất kỳ nguồn thông tin nào, do chính tác giả thực hiện, người khác thực hiện có phép hoặc trái phép (Điều 18.38);

(iii) Minh bạch thông tin sáng chế: Công khai cho công chúng tiếp cận thông tin về đơn và bằng độc quyền sáng chế, ít nhất là thông tin về kết quả tra cứu và thẩm định đơn; tài liệu của người nộp đơn và trích dẫn tài liệu do người nộp đơn và các bên liên quan nộp. (Điều 18.45);

(iv) Đền bù thời hạn bảo hộ nếu chậm trễ trong thủ tục cấp Bằng độc quyền quá 5 năm kể từ ngày nộp đơn hoặc 3 năm kể từ ngày yêu cầu thẩm định nội dung, tính theo thời điểm muộn hơn (chỉ tính thời gian dành cho cơ quan sáng chế để thẩm định đơn và cấp bằng). (Điều 18.46)

4.2 Dữ liệu thử nghiệm Dược phẩm

4.2.1 Bảo hộ độc quyền dữ liệu bí mật phải nộp để đăng ký thuốc

(i) Đối tượng bảo hộ: Dữ liệu thử nghiệm bí mật và dữ liệu bí mật khác về tính an toàn hoặc tính hiệu quả của dược phẩm mới phải nộp trong thủ tục đăng ký lưu hành dược phẩm, gồm cả hóa phẩm và sinh phẩm y tế;

(ii) Nội dung độc quyền: Nhà nước không được cho phép người khác lưu hành thuốc trùng hoặc tương tự với dược phẩm của người nộp dữ liệu, nếu không được phép của người nộp dữ liệu, trên cơ sở dựa vào: (i) dữ liệu đó hoặc chính việc cấp phép lưu hành cho người nộp dữ liệu đó (Điều 18.50.1(a)); hoặc (ii) thông tin về việc cấp phép lưu hành dược phẩm đó ở nước khác nếu việc cấp phép ở nước khác dựa vào dữ liệu của người được cấp phép (Điều 18.50.1(b));

(iii) Thời hạn độc quyền (tính từ ngày cấp phép lưu hành)

-Đối với hóa phẩm - Lựa chọn một trong hai cơ chế: 5 năm cho thuốc có thành phần mới (Điều 18.50.1 và 18.50.2(b)); hoặc 5 năm cho thuốc mới hoàn toàn (không có thành phần hóa học cũ) và thêm 3 năm cho dữ liệu bổ sung đối với thuốc cũ không có thành phần hóa học mới (chỉ định mới, đường dùng mới, liều dùng mới)… (Điều 18.50.1 và 18.50.2(a));

-Đối với sinh phẩm - Lựa chọn một trong hai cơ chế:8 năm độc quyền (như hóa phẩm) (Điều 18.52.1(a)); hoặc 5 năm độc quyền (như hóa phẩm) + các biện pháp bảo hộ khác + thừa nhận bối cảnh thị trường góp phần bảo hộ thị trường] “để tạo ra kết quả có thể so sánh/tương đương” (Điều 18.52.1(b)).

4.2.2 Liên kết thủ tục đăng ký dược phẩm với thủ tục thực thi sáng chế

Phải có một trong hai cơ chế tạo điều kiện thực thi sáng chế trong thủ tục đăng ký thuốc:

(i) Nếu Nhà nước dựa vào dữ liệu gốc đã nộp hoặc dựa vào việc cấp phép trong nước hoặc ngoài nước trên cơ sở dữ liệu gốc đã nộp để cấp phép lưu hành dược phẩm, mà dược phẩm đó là đối tượng của Bằng độc quyền sáng chế thì phải bảo đảm thông tin và thời gian cho chủ sáng chế thực thi quyền:

Trước khi việc lưu hành dược phẩm diễn ra, cho chủ Bằng độc được thông tin về việc có người khác theo đuổi việc lưu hành thuốc và thời gian thỏa đáng để thực thi quyền đối với sáng chế (Điều 18.51.1(a) và (b)); Giải quyết tranh chấp kịp thời: Phải có thủ tục (tư pháp hoặc hành chính) và biện pháp khẩn cấp để xử lý kịp thời tranh chấp về xâm phạm sáng chế hoặc về hiệu lực Bằng độc quyền sáng chế. (Điều 18.51.1 (c)); hoặc

(ii)Không cấp phép lưu hành dược phẩm là đối tượng của Bằng sáng chế: Phải có thủ tục ngoài tố tụng tư pháp để, căn cứ vào thông tin do chủ Bằng độc quyền sáng chế hoặc người đăng ký thuốc hoặc dựa trên việc hợp tác giữa cơ quan đăng ký thuốc và cơ quan sáng chế, không cấp phép lưu hành dược phẩm, nếu không được sự đồng ý của chủ sáng chế (Điều 18.51.2).

4.2.3 Đền bù thời hạn Bằng độc quyền sáng chế nếu chậm trễ bất hợp lý trong thủ tục cấp đăng ký thuốc (Điều 18.54).

4.3 Dữ liệu thử nghiệm Nông hóa phẩm

(i) Đối tượng bảo hộ: Dữ liệu thử nghiệm bí mật và dữ liệu bí mật khác về tính an toàn hoặc tính hiệu quả của nông hóa phẩm mới (chứa thành phần hóa học mới (Điều 18.47.3)), phải nộp trong thủ tục đăng ký lưu hành nông hóa phẩm;

(ii) Nội dung độc quyền: Nhà nước không được cho phép người khác lưu hành thuốc trùng hoặc tương tự với nông hóa phẩm của người nộp dữ liệu, nếu không được phép của người nộp dữ liệu, trên cơ sở dựa vào: (i) dữ liệu đó hoặc chính việc cấp phép lưu hành cho người nộp dữ liệu đó (Điều 18.47.1); hoặc (ii) thông tin về việc cấp phép lưu hành nông hóa phẩm đó ở nước khác nếu việc cấp phép ở nước khác dựa vào dữ liệu của người được cấp phép (Điều 18.47.2).

(iii) Thời hạn độc quyền: 10 năm tính từ ngày cấp phép lưu hành.

5.Tiêu chuẩn bảo hộ Kiểu dáng công nghiệp

(Phần G, Điều 18.55 và 18.56)

(i) Đối tượng bảo hộ: Phải bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của một trong hai đối tượng:

-Kiểu dáng công nghiệp của một bộ phận của sản phẩm (kiểu dáng riêng phần); hoặc -Kiểu dáng có điểm nhấn là một bộ phận trong tổng thể sản phẩm (các đặc điểm tạo dáng cơ bản nằm ở một bộ phận trên sản phẩm). (Điều 18.55)

(ii) Đăng ký quốc tế: Phải cân nhắc một cách hợp lý việc tham gia Thỏa ước La Hay để tạo điều kiện cho việc nộp đơn quốc tế. (Điều 18.55)

6.Tiêu chuẩn bảo hộ Quyền tác giả và quyền liên quan

(Phần H, từ Điều 18.57 đến Điều 18.70)

(i) Nội dung quyền: Cấm các hành vi là tiền đề cho việc xâm phạm quyền, đặc biệt là trong môi trường số (xâm phạm công nghệ bảo vệ quyền (Điều 18.68) và xâm phạm thông tin quản lý quyền (Điều 18.69)); Cụ thể hóa nội dung quyền sao chép, truyền đạt, phân phối (các Điều 18.58, 18.59 và 18.60) và quyền liên quan ((Điều 18.62);

(ii) Cân bằng lợi ích: Nỗ lực để đạt được sự cân bằng lợi ích giữa người nắm quyền và người sử dụng (xã hội) bằng các biện pháp giới hạn và ngoại lệ quyền (các Điều 18.65 và 18.66)

(iii)Thời hạn bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan

-Cả cuộc đời tác giả +70 năm; hoặc

-70 năm sau ngày công bố (nếu công bố trong vòng 25 năm) hoặc 70 năm từ ngày tạo ra tác phẩm/ bản ghi âm/cuộc biểu diễn (nếu không công bố trong vòng 25 năm) (Điều 18.63)

(iv) Đối tượng bảo hộ: bảo hộ tín hiệu cáp và tín hiệu vệ tinh (Phần thực thi);

(v) Tham gia các Hiệp ước về bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường Internet của WIPO (WCT và WPPT).

7.Thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Hiệp định TPP tăng cường ở mức độ rất cao chế độ thực thi quyền SHTT, đặc biệt là chống hàng giả mạo nhãn hiệu và xâm phạm quyền tác giả.

7.1 Nguyên tắc chung về thực thi

Giả định về hiệu lực quyền sở hữu trí tuệ: Chứng cứ ban đầu về quyền (chủ thể, đối tượng và thời hạn của quyền), tức là chứng cứ để giả định về sự tồn tại quyền cho đến khi có chứng cứ ngược lại (Điều 18.72):-Quyền tác giả và quyền liên quan (phát sinh không cần đăng ký): Những thông tin về quyền được thể hiện theo cách thức thông thường; -Đối với nhãn hiệu và sáng chế: Văn bằng bảo hộ cấp trên cơ sở thẩm định nội dung. 

7.2 Thực thi bằng thủ tục và chế tài dân sự và hành chính

7.2.1 Thủ tục và chế tài dân sự (Điều 18.74)

(i) Thủ tục dân sự: Yêu cầu chi tiết đối với trình tự tố tụng dân sự

(ii) Bồi thường thiệt hại: Xác định thiệt hại phải xem xét giá hàng thật, cách tính của chủ SHTT (Điều 18.74.4); Đối với xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và giả mạo nhãn hiệu, phải có quy định về bồi thường theo mức luật định hoặc bồi thường bổ sung (Điều 18.74.6 và 18.74.7) và mức bồi thường luật định phải có tính răn đe (Điều 18.74.8);

(iii) Xử lý hàng hóa xâm phạm: Cơ quan thực thi phải có thẩm quyền buộc tiêu hủy hàng giả mạo nhãn hiệu hoặc sao lậu bản quyền, trừ trường hợp ngoại lệ; tiêu hủy hoặc xử lý ngoài kênh thương mại nguyên liệu phương tiện được sử dụng để sản xuất hàng hóa đó (Điều 18.74.12);

iv) Thực thi hành chính: Không bắt buộc, nhưng nếu có thủ tục hành chính trong đó ban hành chế tài dân sự thì thủ tục hành chính phải tuân thủ các nguyên tắc tương đương với nguyên tắc của thủ tục dân sự (Điều 18.74.16);

(v) Thực thi trong môi trường số: Phải xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu, quyền tác giả và quyền liên quan trên mạng Internet y như các hành vi xâm phạm thông thường (Điều 18.71.2); Phải quy định  Trách nhiệm Nhà cung cấp dịch vụ Internet (Phần J, Điều 18.81 và 18.82): Phải quy định các điều kiện và nghĩa vụ để nhà cung cấp dịch vụ Internet được miễn trách nhiệm pháp lý (không bị coi là đồng phạm, liên đới với hành vi xâm phạm quyền của người sử dụng dịch vụ) và chế tài đối với vi phạm.

7.2.2 Kiểm soát biên giới (Điều 18.76)

(i) Kiểm soát theo yêu cầu của chủ sở hữu nhãn hiệu, quyền tác giả và quyền liên quan (Điều 18.76.1)

(ii) Chủ động kiểm soát (không cần yêu cầu của chủ SHTT) hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu và quá cảnh đối với hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng sao lậu quyền tác giả và quyền liên quan. (Điều 18.76.5)

7.3 Thực thi bằng thủ tục và chế tài hình sự

7.3.1 Tổng quan

Yêu cầu xử lý hình sự vượt xa các điều ước quốc tế hiện hành về sở hữu trí tuệ, và so với pháp luật hiện hành của ta về hình sự (theo chuẩn mực của Hiệp định TRIPS trong WTO mà VN gia nhập năm 2007 và Hiệp định Thương mại song phương VN-US năm 2000). Yêu cầu này không tính đến đặc thù của Việt Nam về hệ thống thực thi hai cấp bậc, hành chính và hình sự, với biện pháp và thủ tục xử phạt hành chính tương đương với hình sự (trừ phạt tù) và nhanh chóng, hiệu quả, có tác dụng răn đe.

Do đó, nhiều hành vi xâm phạm quyền chưa đến mức gây nguy hại lớn đối với xã hội mà hiện nay có thể xử phạt hành chính sẽ phải chuyển sang xử phạt hình sự.

7.3.2 Hành vi tội phạm

Hiệp định TPP yêu cầu hình sự hóa hàng loạt hành vi liên quan đến quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu và bí mật thương mại, trong đó nhiều hành vi về bản chất không phải là xâm phạm quyền - mới chỉ là tiền đề xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan, hoặc hành vi không nhằm khai thác thị trường nơi quyền được bảo hộ (xuất khẩu):

(i) Xâm phạm bí mật thương mại: Xử lý ít nhất một trong ba hành vi (i) cố ý tiếp cận trái phép bí mật thương mại trên hệ thống máy tính; (ii) cố ý chiếm đoạt trái phép bí mật thương mại; (iii) cố ý bộc lộ trái phép bí mật thương mại (Điều 18.78.2), nếu hành vi thuộc ít nhất một trong năm trường hợp  (i) nhằm lợi thế thương mại hoặc lợi ích tài chính; (ii) liên quan đến sản phẩm dịch vụ thương mại quốc gia hoặc quốc tế (quy mô); (iii) cố ý nhằm gây thiệt hại cho chủ sở hữu; (iv) liên quan đến chủ thể kinh tế của nước ngoài; (v) gây tổn hại đến lợi ích kinh tế, quan hệ quốc tế hoặc quốc phòng hoặc an ninh quốc gia của Nhà nước (Điều 18.78.3)

(ii)Xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan không ở quy mô thương mại: Quay phim trong rạp nếu gây thiệt hại đáng kể cho chủ sở hữu (Điều 18.77.4);

(iii)Hành vi mới chỉ là tiền đề xâm phạm quyền:

- Đối với quyền tác giả và quyền liên quan

Phá công nghệ bảo vệ quyền, kinh doanh sản phẩm dịch vụ phá công nghệ bảo vệ quyền  (Điều 18.68.1)

Xóa/thay đổi thông tin điện tử quản lý quyền; phân phối, nhập khẩu thông tin đã bị thay đổi; hoặc bán sao mà thông tin đã bị xóa/ thay đổi  (Điều 18.69.1);

Thu và sử dụng, phân phối tín hiệu vệ tinh mang chương trình và sản xuất kinh doanh... thiết bị giải mã tín hiệu.

Đối với nhãn hiệu: nhập khẩu và sử dụng trong thị trường nội địa nhãn sản phẩm hoặc bao gói sản phẩm mang nhãn hiệu giả mạo (Điều 18.77.3);

(iv) Hành vi không khai thác thị trường nơi bảo hộ: Xử lý hành xuất khẩu thông qua tội phạm phân phối hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng sao lậu quyền tác giả và quyền liên quan (Điều 18.77.2)

7.3.2 Yếu tố cấu thành tội phạm

Hiệp định TPP yêu cầu hạ thấp yếu tố cấu thành tội phạm đối với tội danh xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan, cụ thể là yếu tố nhằm đạt lợi thế thương mại hoặc thu lợi tài chính; hoặc xâm phạm đáng kể, dù ko nhằm đạt lợi thế thương mại hoặc thu lợi tài chính, nhưng gây hại lớn tới quyền lợi của chủ sở hữu bản quyền trên thị trường đều được coi là yếu tố cấu thành tội phạm. (Điều 18.77.1)

7.3.3 Các nguyên tắc hình sự và tố tụng hình sự

(i) Xử lý mặc nhiên: Truy cứu trách nhiệm hình sự không cần yêu cầu của người bị hại (Điều 18.77.6(g));

(ii) Xử lý tang vật: Chi tiết hóa quy định về xử lý hàng hóa xâm phạm, nguyên liệu, phương tiện đã dùng chủ yếu để sản xuất hàng hóa xâm phạm, tài sản có được do xâm phạm, bao gồm các biện pháp tịch thu, tiêu hủy (Điều 18.77.6(c), (d) và (e));

(iii) Cung cấp thông tin vật chứng: Cơ quan có thẩm quyền phải có quyền cung cấp hoặc cho phép tiếp cận hàng hóa xâm phạm, nguyên liệu, phương tiện đã dùng chủ yếu để sản xuất hàng hóa xâm phạm và các chứng cứ khác  để chủ sở hữu có thể kiện dân sự. (Điều 18.77.6(f)).

8. Thời gian chuyển tiếp (Phần K, Điều 18.83.4)

8.1 Thời gian chuyển tiếp dành cho các nước

Trong số các thành viên TPP, Hoa Kỳ, Úc, Singapore, Nhật bản, Canada, là những nước có thể thi hành Hiệp định ngay tại thời điểm Hiệp định có hiệu lực, bởi vì đó là những nước phát triển cao và TPP không có hoặc rất ít có tác động đến hệ thống pháp luật của những nước này (TPP được xây dựng theo chuẩn mực bảo hộ của trong các FTA mà Hoa Kỳ đã ký kết với Úc và Singapore).

8.2 Thời gian chuyển tiếp dành cho VN

Có thể nói, VN là nước chịu nhiều tác động nhất của TPP. Yêu cầu về SHTT của TPP tác động toàn diện lên hệ thống pháp luật và có những chuẩn mực quá cao về bảo hộ quyền SHTT của chủ sở hữu thực sự chưa phù hợp với trình độ phát triển về kinh tế, xã hội của VN hiện nay, đặc biệt là việc bảo hộ độc quyền đối với dữ liệu thử nghiệm dược phẩm và nông hóa phẩm, việc kéo dài thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

Vì vậy, để thực hiện một số nghĩa vụ lớn, VN được dành thời gian chuyển tiếp nhất định để một mặt thực hiện việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết nêu trên, mặt khác để đời sống xã hội tăng thêm một mức nữa và nhờ đó tăng thêm sức chịu đựng trước tác động giá cả của cơ chế độc quyền SHTT. Cụ thể thời gian chuyển tiếp tính từ ngày hiệp định TPP bắt đầu có hiệu lực (Điều 18.83.4 (f)) như sau:

- 3 năm đối với đa số các nghĩa vụ gây tác động pháp luật (cần sửa đổi pháp luật)

- 5 năm đối với một số nghĩa vụ có tác động xã hội: thời hạn bảo hộ quyền tác giả; bảo hộ độc quyền dữ liệu nông hóa phẩm, đền bù thời hạn độc quyền sáng chế do chậm trễ cấp bằng đối với dược phẩm và nông hóa phẩm;

- 12 năm (và có thể đề nghị gia hạn 01 lần, thêm tới 3 năm nữa) đối với nghĩa vụ có tác động lớn nhất đối với xã hội: bảo hộ độc quyền dữ liệu dược phẩm (hóa phẩm và sinh phẩm).

9.Cơ hội và thách thức đối với VN

9.1 Đối với doanh nghiệp

9.1.1 Cơ hội dành cho doanh nghiệp

Chế độ bảo hộ SHTT ở mỗi nước TPP đều áp dụng không phân biệt giữa tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. Vì vậy, ở thị trường cả trong nước và ở các nước thành viên TPP, các doanh nghiệp VN được hưởng sự bảo hộ cao đối với thành quả đầu tư cho hoạt động sáng tạo, từ sáng tạo đổi mới công nghệ, mẫu mã, bao bì đến nhãn hiệu sản phẩm và dịch vụ: Quyền được bảo hộ rộng hơn, dễ dàng hơn; Thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp minh bạch, công bằng và hợp lý hơn; Việc chống xâm phạm quyền nghiêm minh hơn…

Hơn nữa, với cơ chế bảo hộ cao về SHTT sẽ là môi trường tốt có khả năng thu hút chuyển giao công nghệ của nước ngoài để nâng cao chất lượng sản phẩm cho ta trong giai đoạn này, tạo điều kiện từng bước nâng cao năng lực công nghệ nội sinh.

9.1.2 Thách thức đối với doanh nghiệp

Chế độ bảo hộ SHTT cao đồng nghĩa với việc thu hẹp khả năng tiếp cận sản phẩm trí tuệ được bảo hộ đối với xã hội, trong đó có doanh nghiệp: Thời gian bảo hộ càng dài thì thời điểm xã hội được tự do sử dụng sản phẩm càng muộn. Trong thời hạn bảo hộ, giá sản phẩm đương nhiên đắt.

Đối với doanh nghiệp, giá công nghệ, kể cả phần mềm máy tính, bí quyết kỹ thuật là vấn đề quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Tiếp đến các đối tượng SHTT khác như kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu mà doanh nghiệp VN vẫn phải mua của nước ngoài khi công nghệ của ta chưa đủ để đạt mức cạnh tranh.Hơn nữa, chế độ thực thi hà khắc khiến doanh nghiệp của ta cũng phải chịu gánh nặng đối với các thủ tục kiểm soát, đặc biệt là khi bị rơi vào tranh chấp, kiện tụng kể cả trong trường hợp kinh doanh xâm phạm ngay tình.

9.2 Đối với Nhà nước và xã hội

9.2.1 Cơ hội dành cho Nhà nước và xã hội

Nhà nước có thể tiếp tục theo đuổi chính sách bảo hộ SHTT phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, đó là dùng cơ chế bảo hộ quyền SHTT làm công cụ để khuyến khích sáng tạo, đổi mới, chống cạnh tranh không lành mạnh để đưa các sản phẩm sáng tạo, đặc biệt là công nghệ mới để phát triển kinh tế, phục vụ đời sống xã hội.

Trong đó, Nhà nước chú trọng việc cân bằng lợi ích của chủ SHTT và lợi ích xã hội để một mặt bảo vệ thành quả đầu tư cho hoạt động sáng tạo của tổ chức, cá nhân, mặt khác coi trọng lợi ích của toàn dân.

Nhà nước đã nỗ lực không ngừng để xây dựng một hệ thống pháp luật về SHTT cũng như bộ máy các cơ quan thực thi pháp luật để bảo hộ và bảo vệ quyền SHTT.Đến nay, có thể nói rằng hệ thống SHTT của VN không những đạt chuẩn mực của WTO, mà còn có thể sánh với các nước tiên tiến trong khu vực.

Với việc tham gia TPP cũng như các FTA khác, Nhà nước tiếp tục hướng tới các chuẩn mực tiên tiến về bảo hộ của khu vực và thế giới, nhằm mục tiêu tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh để thu hút sự đầu tư ổn định lâu dài của các doanh nghiệp trong khu vực TPP nói riêng và doanh nghiệp nước ngoài nói chung.

9.2.2 Thách thức đối với Nhà nước và xã hội

Cam kết về SHTT trong TPP là gánh nặng lớn vượt bậc đối với Nhà nước VN, đòi hỏi sự đầu tư lớn về mọi mặt:

(i) Cải cách hệ thống pháp luật: Không có một thành viên đàm phán nào phải sửa đổi pháp luật nhiều như VN. Riêng các cam kết về SHTT đã dẫn đến việc sửa đổi: Luật SHTT, Bộ luật dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Hải quan, Luật Dược, Luật Công nghệ thông tin và hàng loạt văn bản dưới luật. Không chỉ đơn thuần là phải sửa đổi các quy định pháp luật cụ thể, mà còn phải thay đổi cơ cấu hệ thống pháp luật, cụ thể là chuyển dịch cơ chế phạt hành chính sang phạt hình sự đối với hàng loạt hành vi xâm phạm quyền SHTT.

(ii) Tăng cường năng lực của các cơ quan nhà nước: Các nghĩa vụ của TPP đòi hỏi các cơ quan cơ quan quản lý nhà nước về SHTT (Cục SHTT, Cục Bản quyền tác giả) các và các cơ quan thực thi, đặc biệt là hải quan và tòa án phải được trang bị năng lực cần thiết, từ hạ tầng kỹ thuật, đến thượng tầng thông tin và đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ.

(iii) Thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội chống tác động tiêu cực của chế độ bảo hộ SHTT mới: Chính sách y tế để bảo đảm khả năng tiếp cận thuốc với giá cả hợp lý cho toàn dân; Chính sách nông thôn để bảo đảm khả năng tiếp cận nguồn vật tư nông nghiệp với giá cả hợp lý cho bà con nông dân, đặc biệt là những người làm kinh tế gia đình tự sản, tự tiêu; Chính sách văn hóa giáo dục để bảo đảm khả năng tiếp cận các sản phẩm sáng tạo mới về văn hóa-giáo dục.Thúc đẩy, hỗ trợ việc sớm tiến hành thủ tục xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý trong nước và ở các thị trường tiềm năng để tránh bị người khác đăng ký nhãn hiệu…;

iv) Nâng cao nhận thức xã hội nói chung và nhận thức của doanh nghiệp nói riêng để tạo ra văn hóa tôn trọng quyền SHTT, kinh doanh lành mạnh của các doanh nghiệp và của xã hội.

10. Lời kết

Là nước phát triển ở mức thấp nhất trong khối TPP cũng như trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, việc cam kết tuân thủ các nguyên tắc bảo hộ SHTT của khu vực là một quyết tâm và nỗ lực hết sức lớn lao của Nhà nước VN.

Có thể nói với cơ chế bảo hộ quyền SHTT cao, xã hội Việt Nam khi còn ở trong giai đoạn phát triển ở trình độ thấp thì chưa được hưởng nhiều lợi ích về bảo hộ sở hữu trí tuệ, mà phải chịu những khó khăn nhất định. Tuy nhiên, đó là luật chơi, là sự trả giá để tạo khả năng thu hút đầu tư nước ngoài, để tạo cơ hội cho các doanh nghiệp VN có cơ hội xâm nhập được thị trường khu vực TPP.

TPP sẽ đưa thương mại của Việt Nam lên tầm lo lớn hơn

Tại báo cáo triển vọng thị trường Việt Nam phát hành ngày 9/8 với tiêu đề “Nhiều dấu hiệu hứa hẹn mặc dù trong giai đoạn khó khăn”, HSBC dự báo, trong giai đoạn từ trung đến dài hạn, TPP có thể sẽ đưa hồ sơ thương mại đã phát triển tương đối mạnh mẽ của Việt Nam lên một tầm to lớn hơn.

Thời điểm khó khăn

Theo HSBC, đây là thời điểm khó khăn cho Việt Nam. Đợt hạn hán tồi tệ nhất trong ba thập kỷ qua đã trút sự tàn phá xuống sản lượng nông nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn chứa nhiều bất ổn. Hậu quả là tăng trưởng GDP quý II/2016 thấp hơn so với dự kiến, và nền kinh tế có thể sẽ trượt mục tiêu tăng trưởng hàng năm 6,7% do Chính phủ đề ra cho năm 2016.

Theo HSBC, hạn hán kỷ lục đã khiến tăng trưởng GDP quý II/2016 thấp hơn so với dự kiến, và nền kinh tế có thể sẽ trượt mục tiêu tăng trưởng hàng năm 6,7% do Chính phủ đề ra cho năm 2016. Ảnh T.L minh họa

Tuy nhiên, HSBC cho biết vẫn tìm thấy những dấu hiệu lạc quan cho các quý sắp tới. Báo cáo GDP cho thấy nhiều lĩnh vực quan trọng khác như sản xuất và dịch vụ vẫn hoạt động mạnh mẽ, và còn nhiều dấu hiệu cho thấy hai lĩnh vực này sẽ tiếp tục tăng trưởng trong các quý tiếp theo.

Cùng với đó, chỉ số phụ PMI đơn hàng xuất khẩu mới vẫn đang tăng mặc dù tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang chậm lại. Trong đó, theo chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng PMI của Markit, lĩnh vực sản xuất của Việt Nam trong quý II/2016 tiếp tục mở rộng thêm. Chỉ số PMI đạt 51,9 điểm, cao hơn mức không thay đổi 50 điểm và thể hiện tháng thứ 8 liên tiếp các điều kiện kinh doanh của ngành đạt mức cải thiện như thế.

Cần lưu ý rằng so với các nước trong khu vực, hoạt động sản xuất của Việt Nam cũng tiếp tục duy trì kết quả tốt. Trong tháng Bảy, lĩnh vực sản xuất của Việt Nam vẫn tăng trưởng mạnh nhất trong số các nền kinh tế châu Á mới nổi, với Ấn Độ cùng theo sát nút (tăng trưởng cũng có ở Đài Loan, Trung Quốc và Hàn Quốc với mức độ nhỏ hơn nhiều). Việt Nam cũng là một trong số rất ít các nền kinh tế vẫn nhận được nhiều đơn đặt hàng mới.

Xuất khẩu và FDI vẫn mạnh

Cũng theo HSBC, nhu cầu nước ngoài phục hồi được lặp lại trong số liệu hoạt động xuất khẩu. Từ đầu năm đến tháng Bảy, hoạt động xuất khẩu tăng 5,3% so với cùng kỳ, thặng dư thương mại trong 7 tháng đầu năm đạt mức 1,8 tỷ USD, một sự chuyển biến đáng chú ý so với mức thâm hụt thương mại 3,9 tỷ USD đã được ghi nhận vào thời điểm này năm ngoái.

Theo HSBC, Bộ Tài chính vừa đề xuất việc Chính phủ phải ngừng bảo lãnh cho các khoản vay của các DNNN cho các dự án mới sẽ bắt đầu trong năm sau, và gia tăng việc giám sát các khoản vay đã dành những dự án đang hiện hữu. Điều này sẽ không chỉ khiến các DNNN hoạt động hiệu quả hơn, mà còn giúp kiểm soát nợ công, để từ đó Chính phủ có nhiều dư địa hơn cho chính sách tài khóa của mình.

Khi nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng vượt nhanh hơn các nước trong khu vực, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục duy trì dồi dào sẽ quay trở lại giúp nền kinh tế giành được nhiều thị phần xuất khẩu hơn ngay cả khi nhu cầu toàn cầu chậm lại. Nguồn vốn FDI mới từ đầu năm đến nay đã tăng 47% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt mức 12,9 tỷ USD với phần lớn đổ vào ngành sản xuất, chế biến và các dự án bất động sản. Từ đầu năm đến nay, Việt Nam đã thu hút 1.408 dự án FDI (tăng hơn 32% so với cùng kỳ) với tổng vốn đăng ký đạt 8,7 tỷ USD, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Mặc dù nền kinh tế Việt Nam thể hiện khá tốt so với các nước trong khu vực, nhưng theo HSBC, những ảnh hưởng của đợt hạn hán này đối với nền kinh tế vẫn cho thấy mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 6,7% do Chính phủ đề ra khó có thể đạt được. HSBC cho rằng, tăng trưởng sẽ nằm xung quanh mức 6% trong năm nay (dự báo năm 2016 là 6,3% và năm 2017 là 6,6%), tương ứng với mức dự báo của Ngân hàng Thế giới, nhưng cũng sẽ không vượt ra khỏi tỷ lệ tăng trưởng từng thấy trong những năm gần đây.

Cùng với việc tăng trưởng khó đạt kỳ vọng, theo HSBC, Việt Nam có thể phải đối mặt với nguy cơ lạm phát sẽ còn tiếp tục tăng nữa trong những tháng tới, khi Chính phủ đang có kế hoạch tăng viện phí và học phí trong tháng Chín; cộng với tình hình khí hậu nóng bức cũng nhiều khả năng sẽ tạo áp lực việc tăng giá thực phẩm. Thêm nữa, tăng trưởng tín dụng - yếu tố phản ảnh nhu cầu trong nước tăng mạnh (đặc biệt là hoạt động đầu tư) dự kiến sẽ vượt mức dự kiến 18-20%.

Nguy cơ lạm phát tăng cao cũng đồng nghĩa với việc dư địa nới lỏng tiền tệ sẽ bị giới hạn. Thực sự, HSBC dự báo Ngân hàng Nhà nước sẽ có nhiều khả năng tăng lãi suất OMO lên 5,5% trong quý III/2017 để kiềm chế lạm phát.

Lạc quan trong trung hạn

Tuy vậy, HSBC vẫn cho rằng, triển vọng nền kinh tế Việt Nam trong trung hạn vẫn còn nhiều lạc quan mặc dù hiện tại có rất nhiều khó khăn. Khả năng không thể đạt được mục tiêu tăng trưởng 6,7% trong năm nay không hẳn là điều xấu, bởi tăng trưởng kinh tế nhanh hơn có thể dẫn đến tình trạng lạm phát cao, tiền đồng bị suy yếu và các nguồn lực được phân bổ thiếu hiệu quả - đặc biệt là nguồn lực tín dụng - trong trung hạn.

Đặc biệt HSBC cũng nuôi dưỡng nhiều hy vọng rằng Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) cuối cùng sẽ được phê chuẩn.“Trong giai đoạn từ trung đến dài hạn, TPP có thể sẽ đưa hồ sơ thương mại đã phát triển tương đối mạnh mẽ của Việt Nam lên một tầm to lớn hơn”, HSBC cho biết.

Theo các ước tính khác nhau, Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia hưởng lợi lớn nhất từ hiệp định này vốn nhằm thúc đẩy mở cửa thị trường, giải quyết các rào cản đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ cũng như những vấn đề pháp lý và phát triển có liên quan. Theo Ngân hàng Thế giới, đến năm 2030, TPP sẽ nâng GDP của Việt Nam lên 10% với phần lớn sự tăng trưởng có được xuất phát từ lĩnh vực dệt may xuất khẩu đi Mỹ và Nhật.

Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm về gia nhập TPP với Indonesia

Ngày 10/8, tại Jakarta, Indonesia đã tổ chức buổi tọa đàm “Bài học kinh nghiệm của Việt Nam gia nhập TPP.”  

Diễn giả tại buổi tọa đàm là Đại sứ Nguyễn Nguyệt Nga, cố vấn cao cấp APEC Việt Nam 2017, nguyên Phó Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế, nguyên Vụ Trưởng Vụ Hợp tác kinh tế đa phương (Bộ Ngoại giao Việt Nam).

Theo phóng viên TTXVN tại Indonesia, đây là dịp Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm về tham gia Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) thế hệ mới, đặc biệt là về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), với Indonesia, đất nước có vai trò quan trọng trong khu vực cũng như trong khối ASEAN.

Hiện nay Indonesia rất quan tâm đến việc điều chỉnh chính sách như thế nào trong tham gia, hội nhập quốc tế. Đại sứ Nguyễn Nguyệt Nga cho rằng thực tế đây là vấn đề mà cả Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực cũng như trên thế giới đều đang phải trải qua trong quá trình phát triển, cải cách...

Theo Đại sứ Nguyễn Nguyệt Nga, Indonesia chia sẻ nhiều thách thức giống Việt Nam trước khi tham gia TPP và đàm phán các hiệp định FTA thế hệ mới trong giai đoạn 2008-2012. Bài học kinh nghiệm lớn là để phát triển đất nước, độc lập tự chủ và bảo vệ vững chắc độc lập, hòa bình, Việt Nam đã mở cửa và đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế.Việc tham gia vào TPP còn là chiến lược FTA, chiến lược đối ngoại và quan trọng hơn cả đó là định hướng và biện pháp để triển khai đổi mới.

Về những thách thức của Indonesia hiện nay trong phát triển, đặc biệt trong các vấn đề năng lực cạnh tranh, trình độ phát triển, Đại sứ cho rằng đây là vấn đề chung của tất cả các thành viên TPP và cũng là thử thách đặt ra cho tất cả các nền kinh tế trên thế giới trong thế kỷ 21 trước sự tác động của cuộc cách mạng công nghệ và xu thế liên kết đa tầng. Đó cũng chính là thách thức tất yếu trong mọi cuộc đàm phán, đặc biệt là đàm phán thương mại.Tuy nhiên, bài học của Việt Nam đó là muốn phát triển chúng ta phải biết vượt qua những vấn đề nội tại của nền kinh tế này, đặc biệt là trong thời đại phát triển bền vững.

Đại sứ Nguyễn Nguyệt Nga chia sẻ Việt Nam ở vị trí đàm phán khó hơn Indonesia, vì Indonesia thuộc nhóm G20, là nước lãnh đạo, đi đầu trong liên kết của ASEAN, quốc gia sáng lập APEC, trong khi Việt Nam có trình độ phát triển thấp hơn, bao gồm cả GDP, năng lực cạnh tranh và đặc biệt là khu vực doanh nghiệp... Vì vậy, Indonesia cần vững tin với vị thế của mình hiện nay để có thể hưởng lợi khi tham gia TPP.

Tại buổi tọa đàm, Đại sứ Nguyễn Nguyệt Nga cũng trả lời nhiều câu hỏi của các đại biểu về một số vấn đề liên quan như chi phí thuế quan, cải cách thể chế, tiếp cận thị trường, tác động của tỷ suất xuất nhập khẩu...

Hiệp định TPP: tranh cãi xung quanh các quy định về dữ liệu

Vẫn còn tồn tại nhiều tranh cãi về việc liệu hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) có cần thiết cho sự tăng trưởng thương mại số hay không.

Hiệp định này đã được ký kết bởi 12 quốc gia ở khu vực vành đai Thái Bình Dương, chiếm 40% GDP toàn cầu. Tuy nhiên, TPP vẫn chưa được thông qua bởi quốc hội của tất cả các nước thành viên.

Các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ, trong đó có IBM eBay Inc, cho rằng chương thương mại điện tử trong hiệp định TPP sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp và cả người tiêu dùng bằng cách loại bỏ rào cản đối với tự do thông tin.

Trong khi đó, một số tổ chức phi lợi nhuận lại lo ngại rằng các quy định liên quan đến các nhà cung cấp dịch vụ internet trong chương sở hữu trí tuệ là không đủ linh hoạt, và một số quy định liên quan đến quyền kỹ thuật số có thể trở thành rào cản công nghệ đối với những người khuyết tật.

Việc bỏ phiếu thông qua hiệp định TPP tại Mỹ sẽ phụ thuộc rất lớn vào kết quả của cuộc bầu cử tổng thống tại quốc gia này - dự kiến sẽ kết thúc vào tháng 11 năm 2016.

Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực phần mềm và ứng dụng di động, trong đó có Liên minh Phần mềmBSA và Hiệp hội các ứng dụng di động ACT cho biết các điều khoản về dữ liệu của TPP rất quan trọng đối với thương mại kỹ thuật số và tăng trưởng kinh tế.

Việc các dữ liệu có thể tự do lưu chuyển qua biên giới sẽ tạo điều kiện cho việc trao đổi các ý tưởng, những khám phá khoa học và các công nghệ mới. Đồng thời, việc cấm các quy định nội địa hóa, trong đó yêu cầu các dữ liệu được tạo ra ở một nước phải được lưu trữ trên máy chủ tại nước đó, sẽ giúp tăng các hoạt động kinh doanh và tăng cạnh tranh.

Tuy nhiên, nhiều nhà phê bình cho rằng TPP đã không cho các nước thành viên đủ sự linh hoạt cần thiết trong việc quyết định nên tuân theo khuôn khổ nào để có thể hạn chế trách nhiệm của các ISP đang chứa các nội dung vi phạm. Hiệp định TPP yêu cầu các nước thành viên phải tuân theo hệ thống "Thông báo và Gỡ bỏ" tương tự như ở Mỹ.

Bên cạnh đó, các quy định bảo vệ quyền kỹ thuật số củaTPP sẽ khiến người khiếm thị, khiếm thính hoặc thính lực kém khó có khả năng tiếp cận các tác phẩm có bản quyền.

Tương lai của TPP vẫn chưa chắn chắn. Theo các chuyên gia thương mại quốc tế, khoản thời gian chuyển tiếp khi bầu cử quốc hội Mỹ đã xong nhưng những đại biểu cũ vẫn tại vị và những đại biểu mới chưa tham gia vào quốc hội có thể là cơ hội tốt nhất để hiệp định TPP được Quốc hội Mỹ thông qua.

Nếu sau khoản thời gian trên, việc thông qua hiệp định TPP sẽ phụ thuộc vào thành phần của quốc hội Mỹ mới.Ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ, bà Hillary Clinton và cùng ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa, ông Donald Trump, đều không ủng hộ hiệp định TPP.

Theo ông David Glynn, luật sư đồng thời là nhà tư vấn về các vấn đề thương mại quốc tế tại công ty Holland & Hart LLP ở Denver (Mỹ), nếu TPP không được quốc hội Mỹ thông qua trong năm 2016, thì trong tương lai TPP không chắc sẽ được thông qua.

Lĩnh vực công nghệ tại Mỹ đã tích cực thúc đẩy việc thông qua TPP. Liên minh lợi ích thương mại Mỹ (Trade Benefits America Coalition) – các công ty như eBay Inc, Microsoft Corp và IBM là thành viên của tổ chức này, đã cố gắng giúp các thành viên của quốc hội Mỹ nhận thức được các lợi ích thương mại mà TPP mang lại cho lĩnh vực công nghệ Mỹ thông qua các cuộc họp cá nhân, báo chí địa phương, website và công bố các dữ liệu.

BSA cũng tham gia viết thư ngỏ gửi đến các ứng cử viên tổng thống để thể hiện sự ủng hộ của tổ chức này đối với TPP. BSA cũng đã gặp các thành viên Quốc hội Mỹ nhiều lần trong năm 2016 để thảo luận về tầm quan trọng của TPP.

Trưởng bộ phận quản lý các vấn đề liên quan đến quy định và chính phủ của công ty IBM, ông Debra Marks cho biết IBM sẽ gặp gỡ các nhà lập pháp Mỹ trong tháng 8 năm 2016 để trình bày ý kiến của IBM đối với TPP, trong đó IBM sẽ tập trung vào chương thương mại điện tử của hiệp định này.

Theo ông Marks, TPP là một hiệp định hết sức tiến bộ và đảm bảo được sự tự do của internet và tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các công ty nhỏ.

Chương thương mại điện tử của TPP yêu cầu các nước thành viên cho phép các thông tin được lưu chuyển sang biên giới thông qua các phương tiện điện tử, bao gồm cả các thông tin cá nhân khi việc lưu chuyển thông tin này cần thiết đối với hoạt động kinh doanh.

Chương thương mại điện tử cấm các nước thành viên yêu cầu các công ty phải sử dụng máy chủ hoặc đặt máy chủ bên trong biên giới quốc gia mới được phép kinh doanh tại quốc gia mình – yêu cầu này thường được gọi là yêu cầu nội địa hóa dữ liệu.

Chương sở hữu trí tuệ củaTPP gồm các điều khoản bảo vệ các ISP, giúp các ISP không phải chịu trách nhiệm đối với các nội dung vi phạm được đăng bởi người sử dụng dịch vụ của ISP, miễn là các ISP kịp thời gỡ các nội dung này xuống khi nhận được thông báo.

Chương sở hữu trí tuệ cũng cấm các hành vi phá vỡ các biện pháp công nghệ giúp kiểm việc truy cập vào các tác phẩm được bảo vệ.

Nếu thế giới không có hiệp định TPP?

Ông Carl Schonander, Giám đốc chính sách công quốc tế thuộc hiệp hội ngành phần mềm và công nghệ thông tin cho biết, sự phát triển, ứng dụng và đổi mới của trí tuệ nhân tạo, của các vật dụng kết nối mạng Internet và của điện toán đám mây đều yêu cầu dữ liệu phải được tự do lưu chuyển. Sẽ rất khó có được đầy đủ các lợi ích do những công nghệ trên mang lại nếu như không có các luồng dữ liệu xuyên biên giới.

Bà Victoria Espinel, chủ tịch đồng thời là giám đốc điều hành của BSA cho biết, các điều khoản liên quan đến luồng dữ liệu và nội địa hoá dữ liệu trong TPP không tồn tại trong bất kỳ hiệp định thương mại nào khác. TPP là hiệp định quốc tế đầu tiên có các quy định chặt chẽ về vấn đề dữ liệu. Theo các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ Mỹ, nếu TPP không được quốc hội Mỹ thông qua, thì các quốc gia khác sẽ trở thành người đầu tiên đưa ra các tiêu chuẩn toàn cầu về thương mại xuyên biên giới. Các tiêu chuẩn được các quốc gia khác đưa ra có thể sẽ không có các quy định về dữ liệu duy nhất, vốn mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế số.

Ông Stephen Ezell, Giám đốc chính sách đổi mới toàn cầu thuộc công ty  Information Technology and Innovation Foundation tại Washington, cho biết, nếu việc việc thông qua TPP thất bại thì đây sẽ là thảm họa đối với nền kinh tế số. Theo ông Ezell, nếu Mỹ không có một hiệp định thương mại được lưu chuyển tự do thì Mỹ sẽ thật sự bỏ lỡ một cơ hội tăng trưởng.Ông Ezell cho biết, việc bảo đảm dữ liệu được lưu chuyển tự do xuyên biên giới là rất quan trọng khi nền kinh tế kỹ thuật số toàn cầu tiếp tục tăng trưởng. Theo báo cáo của TEKES – một công ty Công nghệ và Sáng tạo Phần Lan, một nửa các giá trị của nền kinh tế toàn cầu sẽ được tạo ra nhờ vào kỹ thuật số vào năm 2025.

Ông Schonander cho biết nếu Mỹ không thông qua TPP, các quốc gia khác, trong chẳng hạn như Trung Quốc, có thể sẽ có ảnh hưởng nhiều hơn đến các hiệp định định hướng phát triển thương mại trên thế giới, và những hiệp định này rất có thể sẽ không có các quy định về thương mại kỹ thuật số tương tự như trong TPP. Thay vào đó, các quốc gia này có thể sẽ đưa vào các hiệp định thương mại những quy định liên quan đến nội địa hóa dữ liệu hoặc tăng các điều kiện để có thể xem mã nguồn.

Ông Morgan Reed, giám đốc của ACT cho biết, hiện mối lo ngại liên quan đến việc quốc gia nào sẽ là người dẫn đầu trong việc thiết lập các tiêu chuẩn cho thương mại kỹ thuật số là lớn nhất. Theo ông, nếu quốc gia như Trung Quốc trở thành người dẫn đầu trong việc “xác định xem điều gì là thích hợp đối với nền kinh tế số” thì sẽ rất nguy hiểm. Do đó, ông Reed cho rằng Mỹ bắt buộc phải là quốc gia dẫn đầu thiết lập các quy tắc về thương mại kỹ thuật số trong tương lai.

Nhưng không phải tất cả mọi người đều cho rằng hiệp định TPP cực kỳ cần thiết cho lĩnh vực công nghệ. Ông Jeremy Malcolm, nhà phân tích chính sách toàn cầu cao cấp thuộc công ty Electronic Frontier Foundation, nhận định nếu hiệp định TPP không được thông qua thì lĩnh vực công nghệ cũng chỉ chịu rất ít tác động từ việc này.

Dòng chảy dữ liệu tự do

Các tổ chức hoạt động trong ngành công nghiệp Internet có cái nhìn khác nhau về vấn đề trên. Ông Ari Giovenco, giám đốc ban thương mại và chính sách quốc tế thuộc Hiệp hội internet– hiệp hội mà Facebook, Google, và Amazon tham gia làm thành viên, cho biết thương mại kỹ thuật số và dòng chảy dữ liệu tự do là yếu tố rất quan trọng trong việc bảo đảm ngành công nghiệp Internet có thể tiếp cận hơn 3 tỷ người sử dụng trên thế giới. Theo ông Giovenco, hiệp định TPP sẽ mang lại nhiều lợi ích cho toàn thể cộng đồng internet.

Theo ông Reed, các điều khoản về lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới của hiệp định TPP cũng cực kỳ quan trọng đối với lĩnh vực ứng dụng di động.Vì hầu hết mọi thứ người sử dụng thực hiện trên điện thoại thông minh đều liên quan đến dịch vụ điện toán đám mây.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của việc lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới không chỉ gói gọn ở lĩnh vực công nghệ cao.

Theo bà Espinel, phần mềm phân tích dự báo – loại phần mềm khai thác các dữ liệu nhằm trích xuất thông tin và dự báo xu hướng cho các doanh nghiệp và tổ chức, thường hoạt động chính xác hơn nếu có thông tin từ nhiều khu vực. Ngoài ra, khu vực thu thập dữ liệu và khu vực cần phân tích dữ liệu thường không phải lúc nào cũng cùng một nơi. Bà Espinel cho biết, việc sử dụng phần mềm phân tích để phát hiện gian lận rất cần đến dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới. Chẳng hạn, nếu một chủ thẻ tín dụng đang ở quốc gia thứ nhất, nhưng thẻ lại được sử dụng thanh toán ở quốc gia thứ 2, thì một công ty ở quốc gia thứ 3 vẫn có thể phân tích được dữ liệu thanh toán trên. Nếu dữ liệu không thể lưu chuyển tự do qua biên giới, thì các dữ liệu thu thập được đều trở nên không hữu dụng.

Những người ủng hộ cho rằng TPP bảo đảm cạnh tranh công bằng

Theo ông Reed, việc cấm sử dụng các quy định nội địa hóa dữ liệu sẽ giúp các công ty hoạt động trong lĩnh vực ứng dụng dịch chuyển kinh doanh và cạnh tranh tốt hơn tại thị trường nước ngoài.Các quy định nội địa hóa dữ liệu sẽ buộc các công ty Mỹ có hoạt động kinh doanh trên toàn cầu phải xây dựng hệ thống máy chủ hoặc phải mua dịch vụ máy chủ hiện có tại các quốc gia mà công ty có hoạt động kinh doanh. Theo ông Giovenco, việc thiết lập hệ thống máy chủ ở từng thị trường sẽ rất tốn kém đối với các công ty.Ông Reed cho biết quy định nội địa hóa dữ liệu sẽ khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng kinh doanh ra toàn cầu, đồng thời khiến người tiêu dùng khó mua được các các sản phẩm tốt có thể mang lại nhiều lợi ích.

Chẳng hạn như, một nhà phát triểnứng dụng Mỹ đã thiết kế được một ứng dụng nông nghiệp giúp trồng cây.Tuy nhiên, nhà phát triển này sẽ không thể giới thiệu ứng dụng trên đến các nông dân ở những nước đang thực thi quy định nội địa hóa dữ liệu nếu không thiết lập một hệ thống máy chủ tại những quốc gia này.

Theo ông Reed, việc cấm sử dụng các quy định nội địa hóa dữ liệu sẽ mang lại lợi ích cho tất cả công ty ứng dụng di động đang có các ứng dụng được sử dụng trên toàn cầu, bất kể quy mô công ty lớn hay nhỏ. Ông Reed cho biết các công ty cung cấp các ứng dụng phục vụ cho một địa phương cụ thể cũng vẫn được hưởng lợi ích từ việc cấm sử dụng các quy định nội địa hóa dữ liệu, vì các công ty này vẫn lưu trữ dữ liệu bằng phương pháp điện toán đám mây, và gia tăng cạnh tranh sẽ khiến dịch vụ điện toán đám mây giảm giá cả.

Hiệp định TPP có khả năng khiến người khuyết tật gặp khó khăn trong việc tiếp cận các tác phẩm có bản quyền

Một số nhà phê bình lo ngại TPP có thể ngăn chặn việc sử dụng công nghệ để chuyển những tác phẩm có bản quyền sang những định dạng khác dễ tiếp cận đối với những người khiếm thị, khiếm thính hoặc thính lực kém – những người rất cần âm thanh mô tả hoặc phụ đề mới thưởng thức được các tác phẩm có bản quyền trên.

Theo ông Malcolm, chương sở hữu trí tuệ củaTPP cấm hành vi phớt lờ các biện pháp an ninh công nghệ có mục đích hạn chế truy cập trái phép vào các tác phẩm kỹ thuật số có bản quyền. Bên cạnh đó, tuy chương sở hữu trí tuệ cho phép các nước thành viên TPP có các ngoại lệ đối với các quy định chống gian lận bản quyền, nhưng lại không bắt buộc tất cả các nước thành viên đều có trường hợp ngoại lệ. Những quy định trên khiến việc chuyển đổi hoặc tạo ra các công cụ giúp chuyển đổi các tác phẩm có bản quyền sang định dạng dễ tiếp cận hơn đối với người khuyết tật một cách phi lợi nhuận gặp nhiều khó khăn. Tuy TPP sẽ không ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của người khuyết tật trong hiện tại, nhưng hiệp định này sẽ khiến chúng ta không thể tiếp tục nâng cao khả năng tiếp cận của người khuyết tật đối với các tác phẩm có bản quyền trong tương lai.

Bà Krista Cox, giám đốc ​​chính sách công thuộc Hiệp hội các thư viện nghiên cứu (Association of Research Libraries) tại Washington, cho biết ngôn ngữ sử dụng trong các quy định liên quan đến quyền của người giữ bản quyền tác phẩm trong TPP lại mạnh hơn so với ngôn ngữ được sử dụng trong các quy định liên quan đến quyền lợi của người sử dụng tác phẩm. Theo bà Cox, ngôn ngữ được sử dụng trong các quy định liên quan đến các ngoại lệ về bản quyền của TPP đã có tiến bộ, tuy vậy bà Cox cho rằng vẫn cần sử dụng ngôn ngữ mạnh mẽ hơn cho các quy định này.

Bà Carolina Rossini, phó chủ tịch ban chính sách và chiến lược quốc tế thuộc tổ chức Tri Thức Cộng Đồng tại Washington, lại không cho rằng TPP sẽ tạo ra các rào cản đối với việc truy cập web. TPP có sự linh hoạt trong việc xác định phạm vi thích hợp của các quy định chống gian lận bản quyền, và ngoại lệ của các quy định này. Theo bà Rossini, sự linh hoạt trên tạo ra một không gian thoải mái để các nước thành viên TPP có thể thiết lập các quy định và chính sách tốt giúp giải quyết vấn đề tiếp cận internet của người khiếm thị.Tuy nhiên, bà Cox lại cho rằng TPP không có sự linh hoạttrong các điều khoản liên quan đến việc tạo ra không gian an toàn đối với các nhà cung cấp dịch vụ internet.

Chương sở hữu trí tuệ của TPP có các điều khoản tương tự như hệ thống “Thông báo và Gỡ bỏ” thuộc Đạo luật bản quyền thiên niên kỷ số của Mỹ, trong đó cho phép các ISP không phải chịu trách nhiệm đối với các hành vi vi phạm của người sử dụng miễn là các ISP loại bỏ các nội dung này ngay sau khi nhận được thông báo vi phạm.

Phụ lục 18-E của chương sở hữu trí tuệ thuộc TPP cho biết, một nước thành viên có thể không áp dụng khuôn khổ thông báo và gỡ bỏ của hiệp định nếu, kể từ ngày TPP được ký kết, đã áp dụng hệ thống thông báo chuyển tiếp đến những đối tượng bị cáo buộc vi phạm.

Canada được miễn áp dụng khuôn khổ thông báo và gỡ bỏ của TPP theo phụ lục 18-E vì Canada đã sử dụng hệ thống "thông báo và thông báo". Theo hệ thống này, người nhận được thông báo phải có trách nhiệm xác định xem nội dung có vi phạm hay không.

Bà Cox cho biết hệ thống trên của Canada có thể tốt hơn so với hệ thống thông báo và gỡ bỏ của TPP, và các nước thành viên TPP được phép chọn hệ thống mà họ sẽ thực thi.

Hệ thống “thông báo và thông báo” mới hơn so với hệ thống thông báo và gỡ bỏ, và cần thời gian để biết hệ thống mới này có hiệu quả ra sao, nhưng điểm quan trọng là hiệp định TPP nên duy trì những sự linh hoạt tương tự như thế này hơn là cấm đoán chúng.

Vẫn còn nhiều vấn đề chưa chắc chắn ở phía trước

Theo các chuyên gia thương mại quốc tế, vì cuộc bầu cử tổng thống Mỹ sắp diễn ra, nên khả năng quốc hội Mỹ thông qua TPP là không chắc chắn.

Ông Ezell cho biết giai đoạn chuyển tiếp khi bầu cử quốc hội đã xong nhưng những đại biểu cũ vẫn tại vị và những đại biểu mới chưa tham gia vào quốc hội sẽ là cơ hội thông qua TPP tốt hơn so với khoảng thời gian sau khi tân Tổng thống Mỹ nhận nhiệm sở. Theo ông Ezell, khả năng TPP được thông qua sẽ lớn hơn nhiều nếu còn dưới thời của tổng thống Obama, thay vì dưới thời tổng thống Clinton hay tổng thống Trump.

Ngày 27 tháng 7 năm 2016, chủ tịch chiến dịch tranh cử của bà Hillary Clinton, ông John Podesta cho biết bà Clinton không ủng hộ TPP và cũng không quan tâm đến việc đàm phán lại hiệp định này.Bên cạnh đó, vào tháng 6 năm 2016, ông Trump thẳng thắn tuyên bố ông sẽ rút Mỹ ra khỏi TPP trong bài phát biểu quan điểm của ông về chính sách kinh tế.

Trong khi đó, ông Obama lại tiếp tục khẳng định sự ủng hộ của ông đối với TPP.Theo ông Obama, TPP là cơ hội phát triển nền kinh tế Mỹ, đồng thời là cơ hội để Mỹ thiết lập các các quy tắc thương mại công bằng trong thế kỷ 21.

Ông David Olave, giám đốc ban quan hệ thương mại quốc tế và chính phủ của công ty Sandler Travis & Rosenberg PA, cho biết việc thông qua TPP trong giai đoạn chuyển tiếp là khó có khả năng xảy ra. Tuy nhiên, ông Olave cho rằng khả năng TPP được thông qua sẽ lớn hơn nếu bà Clinton thắng cử tổng thống Mỹ.

Theo ông Olave, chiến dịch tranh cử của ông Trump có các luận điểm phản đối TPP rất gay gắt, do đó nếu ông Trump thắng cử thì Quốc hội Mỹ sẽ không thể bỏ phiếu về vấn đề này trong thời gian đương nhiệm của ông. Tuy nhiên, nếu bà Clinton thắng, các nghị viên thuộc đảng Cộng hòa hiện đang tại vị trong Quốc hội Mỹ có thể sẽ cảm thấy tốt hơn là thông qua TPP trước khi bà Clinton thay đổi nội dung hiệp định.

Ông Glynn cũng cho rằng khoản thời gian ngay sau khi bầu cử quốc hội Mỹ kết thúc là cơ hội tốt để tổng thống Obama trình bay hiệp định TPP trước quốc hội Mỹ. Bởi vì khi tân tổng thống Mỹ nhậm chức thì việc thông qua hiệp định sẽ gặp khó khăn. Cả hai ứng cử viên tổng thống hiện tại đều không ủng hộ TPP.

Ngay cả khi các nghị viên của đảng Cộng hòa - những người ủng hộ thương mại tự do, chiếm đa số ghế trong Quốc hội Mỹ thì tổng thống vẫn có quyền phủ quyết hiệp định này.

12 nước thành viên của hiệp định TPP gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam.

Nguồn: Asem/WTO/Bloomberg…

Từ khóa : Tổng hợp, phân tích, hiệp định TPP, trong tháng 8/2016.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008753514
Go to top