JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếNhật Bản, Việt Nam, và mô hình phát triển nông nghiệp và thương mại châu Á

Nhật Bản, Việt Nam, và mô hình phát triển nông nghiệp và thương mại châu Á

 

VN-Japan

Điểm nổi bật:

- Việt Nam đang phát triển nhanh theo bước chân của Nhật Bản với mô hình công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu.

- Chính sách thương mại tại Nhật Bản và Việt Nam đều bảo vệ nhập khẩu hàng nông sản, đầu vào nhập khẩu có chọn lọc liên quan đến sản phẩm tiêu dùng đã chế biến.

- Nhập khẩu nông sản của Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng và theo mô hình tăng trưởng nhập khẩu trước đây của Nhật Bản.

Nhật Bản và Việt Nam đại diện cho hai giai đoạn phát triển nông nghiệp ở châu Á. Nhật Bản tương đối giàu có và nông nghiệp đã trở thành một lĩnh vực được bảo vệ và trợ cấp trong nền kinh tế của đất nước. Trong khi đó, Việt Nam là nước tương đối nghèo, và nông nghiệp vẫn là một nguồn quan trọng cho xuất khẩu và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế.

Cả hai nước từ lâu đời đã tập trung vào ngành nông nghiệp lúa nước, với các trang trại nhỏ đặc trưng. Cả hai quốc gia có lĩnh vực phi nông nghiệp tăng trưởng nhanh hơn so với sản xuất nông nghiệp. Vì nông nghiệp sử dụng nhiều quỹ đất và hàng triệu lao động, thậm chí ở Nhật Bản ngày nay - cả hai nước hiện nay đều can thiệp để hỗ trợ thu nhập cho nông dân.

Phát triển kinh tế châu Á đã đi theo một quá trình của lợi thế so sánh động, theo đó các nước liên tục leo lên các bậc thang công nghiệp hóa (từ các ngành thâm dụng lao động không có tay nghề tới các lĩnh vực sử dụng nhiều kỹ năng hơn). Nhật Bản, đất nước công nghiệp hóa sớm nhất, được xem là quốc gia dẫn đầu kinh tế của khu vực. Vì sản phẩm dệt may phải dựa vào bông nhập khẩu, các ngành công nghiệp của Nhật Bản đã phát triển rộng sang các ngành thép, máy móc, và thiết bị điện tử. Các ngành không có kỹ năng đã được Nhật chuyển giao cho các quốc gia công nghiệp hóa mới, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, và Singapore. Khi chi phí lao động tăng lên ở những nước này, họ lần lượt chuyển các lĩnh vực lao động phổ thông sang Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Nhật Bản và Việt Nam, các chỉ số kinh tế vĩ mô, thương mại và tiêu dùng

 

Nhật Bản

Việt Nam

Kinh tế vĩ mô1

Dân số (triệu, 2013)

127

90

Tăng trưởng dân số hàng năm (%, 2011-2013 avg.)

-0.09%

1.07%

GDP (tỷ USD, 2013)

4,902

171

GDP trên đầu người (USD, 2013)

38,504

1,911

Tăng trưởng GDP thực (trung bình hàng năm, 2014-2025)

0.87%

6.58%

Giá trị nông nghiệp (% of GDP, 2012)

1.20%

19.60%

Đất nông nghiệp (% of total land area, 2011)

13%

35%

Thương mại2

Xuất khẩu nông sản sang Mỹ (triệu USD, trung bình 2011-2013

521

1,170

Nhập khẩu nông sản từ Mỹ (triệu USD, trung bình 2011-2013)

16,513

1,519

Thay đổi tiêu dùng tính trên đầu người , 2014-20253

Ngũ cốc

-0.3%

-0.9%

Trái cây/rau

4.4%

5.3%

Dầu và chất béo

0.4%

22.6%

Thịt

1.6%

20.8%

Sữa

0.4%

19.6%

Thực phẩm khác

0.2%

37.6%

Nguồn: 1Ngân hàng Thế giới, USDA, Viện Nghiên cứu Kinh tế (ERS) Cơ quan dữ liệu kinh tế vĩ mô quốc tế; 2Dữ liệu Thương mại Liên hiệp Quốc; và 3 Mô hình đối tác xuyên Thái Bình Dương ERS.

Công nghiệp hoá trong nông nghiệp khó khăn nếu các trang trại có quy mô nhỏ

Công nghiệp hoá trong nông nghiệp trở nên khó khăn nếu các trang trại có quy mô nhỏ, như ở châu Á. Người lao động rời bỏ trang trại để chuyển tới làm việc tại các khu công nghiệp hay khu vực dịch vụ, thường di cư đến các thành phố. Các nông trại trên toàn Đông Nam Á có xu hướng phải đối mặt với trình trạng lực lượng lao động giảm do đơn giản hóa và giảm các hoạt động nông nghiệp, thường tập trung vào một loại cây trồng (lúa), chăn nuôi, hoặc nghề làm vườn. Tuy nhiên, thu nhập của hộ gia đình tại các trang trại nhỏ, đặc biệt là trồng lúa, thấp hơn rất nhiều so với các hộ gia đình sản xuất phi nông nghiệp. Chính phủ khi đó phải can thiệp để hỗ trợ thu nhập cho các hộ gia đình làm nông nghiệp. Ở những nước mà các trang trại lớn đã phát triển, như Mỹ, thu nhập hộ gia đình sản xuất nông nghiệp thường gần bằng hoặc vượt mức thu nhập của các hộ gia đình sản xuất phi nông nghiệp. Trong các cuộc đàm phán tự do hóa thương mại, việc làm hài hòa các chính sách bảo hộ ở Đông và Đông Nam Á với các chính sách định hướng xuất khẩu của các nước có nhiều trang trại thương mại là rất khó khăn.

Nhật Bản, nước châu Á đầu tiên công nghiệp hóa, hiện có khoảng 6 triệu người sống trên 1,6 triệu trang trại thương mại. Khoảng 1,8 triệu nông dân chi hơn 50% thời gian của họ cho việc canh tác. Mặc dù các trang trại thương mại trung bình nhỏ hơn 5 ha, các hộ gia đình quản lý các trang trại nhỏ vẫn có thu nhập gần bằng các hộ gia đình phi nông nghiệp. Một phần nguồn thu nhập này là từ những hoạt động phi nông nghiệp; Tuy nhiên, các trang trại của Nhật Bản cũng được hưởng lợi từ giá đầu ra rất cao theo tiêu chuẩn toàn cầu. Mức giá cao này được duy trì bởi các rào cản nhập khẩu đối với những mặt hàng chính được sản xuất ở Nhật Bản như: gạo, thịt bò, các sản phẩm sữa và nguyên liệu chất ngọt như củ cải đường và mía. Trợ cấp của chính phủ cũng hỗ trợ thêm thu nhập cho các trang trại. Hơn một nửa số thu nhập từ trang trại của Nhật Bản là từ sự can thiệp của chính phủ. Một số lĩnh vực, chẳng hạn như các loại rau và hoa quả, cần sự hỗ trợ của chính phủ ít hơn vì hàng sản xuất trong nước tươi hơn và phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Nhật Bản và do đó hàng nhập khẩu khó có thể thay thế.

Trong khi nền kinh tế của Nhật Bản phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ sau Thế chiến II, nền kinh tế của Việt Nam đã bị nhấn chìm bởi các cuộc chiến tranh và cơ chế kế hoạch tập trung dẫn đến nền kinh tế bị trì trệ trong nhiều thập kỷ. Năm 1986, Việt Nam đã bắt tay vào một chương trình nghị sự kinh tế táo bạo được gọi là Công cuộc Đổi mới hay "Đổi mới" để mở ra một nền kinh tế định hướng thị trường. Chiến thuật này đã dần dần được triển khai, nhưng các doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu chính trị hầu như còn nguyên vẹn. Các hộ nông dân được phép sản xuất và buôn bán hàng hóa cá nhân, chứ không nhất thiết là tập thể như trước. Nông dân đã được cấp hợp đồng thuê dài hạn, trong đó cho phép trao đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, và thế chấp quyền sử dụng đất. Cùng với những cải cách "Đổi mới", Việt Nam đã áp dụng một chiến lược tăng trưởng nhằm thúc đầy xuất khẩu.

Đến thế kỷ 21, Việt Nam đã theo hướng công nghiệp hóa và phát triển hàng dệt may và giày dép. Đối với cả hai lĩnh vực, đầu tư nước ngoài đã giúp Việt Nam có được vị trí trong chuỗi sản xuất toàn cầu và trở thành một nước xuất khẩu lớn, với nhiều ngành sản xuất khác theo sau. Chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong năm 1986, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đạt 269 USD; vào năm 2013, con số này đã tăng lên gần gấp bốn lần. Phát triển kinh tế sẽ làm thay đổi ngành nông nghiệp và lực lượng lao động của Việt Nam. Kể từ năm 1990, dân số thành thị mới chỉ chiếm 20%, đến nay nhiều người dân nông thôn đã rời nông nghiệp để chuyển tới các khu đô thị.

Chính sách thương mại nông nghiệp hỗ trợ đầu vào nhập khẩu và bảo vệ hàng tiêu dùng

Hỗ trợ và phát triển nông nghiệp là những vấn đề quan trọng khi các chính sách thương mại được đàm phán, như trong các vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hoặc các thỏa thuận thương mại ưu đãi được đề xuất (PTA) như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), mà cả hai nước đang tham gia. Nhật Bản và Việt Nam áp đặt một loạt các biện pháp bảo hộ, bao gồm cả thuế quan, hạn ngạch thuế quan (TRQ) – đặc biệt tại Nhật Bản và thương mại quốc doanh một số mặt hàng nhập khẩu nhất định. Các biện pháp khác bao gồm việc sử dụng giá tham chiếu để xác định mức thuế nhập khẩu của một số mặt hàng (Việt Nam) và thuế khả biến (Nhật Bản, thịt lợn). An toàn, vệ sinh, kiểm dịch và kiểm soát thực phẩm đóng vai trò về mặt luật pháp, nhưng cũng có thể được sử dụng để bảo vệ sản xuất trong nước. Nhật Bản và Việt Nam đã bị vướng vào những tranh chấp về lạm dụng những quy định trên. Nhật Bản duy trì các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch thực vật (SPS) nghiêm ngặt đối với hàng nông sản. Đối với Việt Nam, quy định và biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm vẫn còn trong giai đoạn trứng nước, và năng lực của các cơ quan kiểm tra cũng còn bị hạn chế, dẫn đến việc thực thi không phù hợp. Ví dụ, trong năm 2010, Việt Nam cấm nhập khẩu thịt và nội tạng mà không có lời giải thích. Lệnh cấm được dỡ bỏ một phần vào năm 2011 và chấm dứt vào năm 2014.

Các chính sách thương mại tại Nhật Bản, Việt Nam, và các nước châu Á khác có xu hướng ưu tiên đầu vào cho sản xuất. Là một phần của chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, Việt Nam đã từng bước thực hiện mục tiêu tự do hóa thuế quan. Thuế quan đối với đầu vào nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, như bông và da được sử dụng cho hàng dệt may và giày dép, đã được hạ xuống. Cả Nhật Bản và Việt Nam phụ thuộc vào thức ăn chăn nuôi nhập khẩu để hỗ trợ ngành chăn nuôi gia súc, do nhập khẩu thức ăn chăn nuôi không phải chịu mức thuế suất. Ngược lại, Nhật Bản bảo vệ chặt chẽ các sản phẩm sản xuất trong nước như lúa mì và lúa gạo, trong khi cả hai nước đang nỗ lực bảo vệ nhiều loại thực phẩm tiêu dùng.

Cùng với công nghiệp hóa, nông dân trồng lúa đã thay súc vật (trâu, bò) bằng xe cơ giới và máy kéo để phục vụ cày bừa. Vật nuôi sau này sẽ được nuôi để lấy thịt. Nhật Bản vẫn có hàng ngàn trang trại nhỏ chuyên nuôi gia súc, mặc dù số lượng các trang trại đã giảm mạnh. Ngược lại, các trang trại lợn và gia cầm có quy mô ngày càng lớn, như ở các nước phương Tây. Trang trại bò sữa, thường lớn và thâm dụng vốn theo tiêu chuẩn của Nhật Bản, nhưng không lớn như các trang trại ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên, nguồn thức ăn cho gia súc và gia cầm lại không có sẵn tại Nhật Bản. Đồng cỏ khá hạn chế, và gia súc như lợn và gia cầm, được cho ăn bằng ngô và đậu nành. Kết quả là, Nhật Bản trở thành nhà nhập khẩu ngô lớn nhất thế giới trong nhiều năm qua và cũng là một nhà nhập khẩu lớn đậu nành và thức ăn khác.

Tình hình thức ăn của Việt Nam có thể sớm giống như của Nhật Bản. Ngành công nghiệp nuôi lợn của Việt Nam đứng thứ 10 thế giới, và sản xuất được phát triển để đáp ứng nhu cầu thịt lợn tăng cao. Hoạt động nuôi lợn đang thay đổi, từ hoạt động quy mô nhỏ sử dụng nguồn thức ăn mua trong nước sang sản xuất thịt hiệu quả hơn và chăn nuôi theo phương thức công nghiệp. Nhu cầu thịt gà của Việt Nam cũng đang tăng. Sản xuất ngô và sắn cũng đang phát triển, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, Việt Nam cần nhập khẩu nhiều thức ăn hơn (đối với gà thịt cũng như heo), và ngày càng nhiều nhà máy thức ăn chăn nuôi dựa vào nguyên liệu nhập khẩu để trộn thức ăn chăn nuôi. Việt Nam có một số giống gia súc địa phương và trâu nước, nhưng rất ít gia súc có giống hiện đại, hiệu quả để lấy thịt.

Tiêu thụ lúa mì làm mì và bánh mì tăng lên khi nền kinh tế châu Á đô thị hoá và công nghiệp hoá. Các sản phẩm lúa mì rất thuận tiện, hấp dẫn, và giá cả phải chăng. Chính phủ Nhật Bản kiểm soát lúa mì để hỗ trợ sản xuất trong nước. Ở Việt Nam, lúa mì không phát triển, và nhập khẩu lúa mì không bị đánh thuế.

Nhập khẩu nông sản trực tiếp cho tiêu dùng, bao gồm cả thịt, rau, trái cây, và thực phẩm chế biến, đã phải đối mặt với những rào cản cao hơn. Thương mại tạo ra nhiều loại thực phẩm có thể dùng trong bữa ăn hơn, mặc dù chính phủ châu Á đã thận trọng về việc cho phép tự do thương mại các sản phẩm chế biến sẵn cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, nhập khẩu thực phẩm tiêu dùng chế biến sẵn đã tăng rất mạnh tại Nhật Bản- 25 tỷ USD năm 2012 và chiếm 40% nhập khẩu hàng nông sản. Ở Việt Nam, nhập khẩu các loại thực phẩm chế biến sẵn cho người tiêu dùng vẫn còn tương đối khiêm tốn: 2 tỷ USD hay 18% nhập khẩu nông sản.

Gạo có vị thế đặc biệt tại nhiều nước châu Á. Việt Nam là một trong 3 nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Nhật Bản vẫn duy trì giá gạo nội cao thông qua các rào cản biên giới vững chắc. Sau Vòng đàm phán Uruguay (UR) của WTO, Nhật Bản buộc phải thiết lập một hạn ngạch thuế quan lớn mà làm cho nó trở thành một trong những nước nhập khẩu gạo lớn. Tuy nhiên, mức thuế cao hơn hạn ngạch đã ngăn cản thương mại bên ngoài hạn ngạch thuế quan, và Chính phủ quản lý cẩn thận thương mại trong hạn ngạch thuế quan. Kết quả là, gạo nhập khẩu thường không dành cho người tiêu dùng mà sẽ được xuất khẩu như khoản viện trợ thực phẩm, thức ăn cho động vật, hoặc được sử dụng để chế biến. Việt Nam đang cố gắng kiểm soát xuất khẩu gạo để duy trì giá ổn định. Mặc dù có sự can thiệp này, giá gạo của Việt Nam thấp hơn nhiều so với Nhật Bản và gần với mức giá thế giới. Trong khi cả hai nước có sản lượng gạo dư thừa, Việt Nam kiếm được khoản tiền lớn từ xuất khẩu, trong khi Nhật Bản lại hỗ trợ nông dân để họ trồng ít lúa. Tuy nhiên, giống như Nhật Bản, Việt Nam phải đối mặt với thách thức trong việc điều tiết các trang trại lúa nhỏ với nền kinh tế hiện đại.

Vai trò của các hiệp định thương mại ưu đãi (PTAs)

Trong khi nhập khẩu của Nhật Bản phần lớn trì trệ, tăng trưởng thương mại chung của Việt Nam đã bùng nổ. Năm 1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và thương mại nông nghiệp của Việt Nam trong 10 nước thành viên khối thương mại khu vực đã được mở rộng đáng kể. Thương mại nông nghiệp của Việt Nam cũng được hưởng lợi từ việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ vào năm 2001. Việc gia nhập WTO vào năm 2007 tạo một chất xúc tác quan trọng cho sự phát triển và hội nhập. PTA dẫn đến việc cắt giảm thuế mà gần đây đã bắt đầu có hiệu lực. Nhật Bản cũng đã tham gia vào PTA, nhưng những thỏa thuận của nước này lại hạn chế về thương mại một số hàng hóa nhất định, bao gồm cả lương thực (gạo, lúa mì và lúa mạch), các loại thịt (thịt bò và thịt lợn), chất ngọt (đường và xi-rô ngô), và các sản phẩm từ sữa. Hiện nay, các đối tác thương mại nông nghiệp lớn của Việt Nam vẫn là các nước ASEAN. Tuy nhiên, Trung Quốc đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn và là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Mỹ đứng thứ hai và là nguồn nhập khẩu lớn nhất. Tăng trưởng thương mại với cả hai đối tác này đã đạt mức ấn tượng, tương ứng 7 và 10 lần. Nhập khẩu từ Nam Mỹ đã tăng ở cả Nhật Bản và Việt Nam. Hiệp định TPP đang được đàm phán, được xem là quan trọng đối với chiến lược kinh tế dài hạn cho cả Nhật Bản và Việt Nam. Việt Nam hy vọng rằng TPP sẽ giúp thị trường an toàn ở nước ngoài và tạo điều kiện cho các dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam đang tìm cách mở cửa tiếp cận cho ngành công nghiệp dệt may và giày dép. Đổi lại, các nước xuất khẩu nhìn Việt Nam như một thị trường có tiềm năng tăng trưởng. Tuy nhiên, các PTA của Việt Nam hiện nay trùng với rất nhiều nước đang đàm phán TPP. Là một thành viên của ASEAN, Việt Nam đã được hưởng mức thuế thấp với Brunei, Malaysia, và Singapore. Theo các PTA của Việt Nam với Australia, New Zealand, và Chile, hầu hết các dòng thuế của Việt Nam phải được loại bỏ dần.

5-2-2015-Trade

 

5-2-2015-Trade1

Nhật Bản cũng có thể hưởng lợi từ một thỏa thuận toàn diện về thương mại nông nghiệp. Tự do hóa thương mại hàng hóa bảo vệ người tiêu dùng sẽ mang lại giá thấp hơn và đa dạng hơn. Ngoài ra, cạnh tranh về phía cung sẽ giúp cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp của Nhật Bản. Đối với các nước xuất khẩu, thị trường rộng lớn của Nhật Bản sẽ tạo cơ hội cho sự phát triển thương mại đáng kể.

Cơ hội và thách thức cho xuất khẩu nông nghiệp Mỹ tại các thị trường châu Á

Mỹ có lợi thế so sánh mà bổ sung cho các ngành nông nghiệp thực phẩm của Nhật Bản và Việt Nam, và từ lâu Mỹ đã là nhà cung cấp lớn nhất các sản phẩm nông nghiệp cho Nhật Bản. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu nông sản của Mỹ sang Nhật đã bị đình trệ trong những năm gần đây. Một số mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Mỹ đến Nhật Bản - bao gồm cả đậu nành và các loại trái cây - đã giảm từ năm 2000. Các mặt hàng xuất khẩu khác, chẳng hạn như lúa mì và ngô, đã bị trì trệ. Tuy nhiên, xuất khẩu thịt lợn của Mỹ sang Nhật đã đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ trong 15 năm qua.

Thị phần của Mỹ trong tổng nhập khẩu nông sản của Nhật Bản cũng đã giảm trong những năm gần đây. Nhập khẩu từ Nam Mỹ (đậu nành, bột đậu nành, thịt gia cầm, và ngũ cốc); Đông Nam Á (dầu cọ, cao su, và thịt gia cầm); Nam Á (bột đậu nành); và Hàn Quốc (đồ uống có cồn và thực phẩm chế biến) đã tăng thị phần.

5-2-2015-Trade2

Ngược lại, xuất khẩu nông sản của Mỹ sang Việt Nam có mức tăng trưởng mạnh, chủ yếu là do sự phát triển kinh tế non trẻ của Việt Nam. Nền kinh tế của Nhật Bản đã trưởng thành, và dân số đang giảm. Nền kinh tế của Việt Nam đang tăng trưởng, dân số trẻ hơn và tăng trưởng chậm. Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi tăng mạnh khi tiêu thụ thịt của Việt Nam gia tăng.

5-2-2015-Trade3

Chính sách bảo vệ hàng nông sản của Nhật Bản đã tồn tại trong nhiều năm. Các hiệp định thương mại như Hiệp định với Mỹ trong năm 1989 và UR năm 1995 đã mang lại một số tự do hóa, nhưng đã có chút thay đổi trong 15 năm qua kể từ khi kết thúc thời gian thực hiện UR. Nhật Bản đã không thể đàm phán hiệp định thương mại sâu rộng vì thiếu thiện chí về tự do hóa bảo hộ nông nghiệp. Việt Nam không có các biện pháp bảo vệ mạnh mẽ, và Việt Nam đã đàm phán các hiệp định tương đối sâu rộng với các đối tác thương mại khác, đáng chú ý là gia nhập vào ASEAN và WTO, vốn hạn chế khả năng áp đặt chính sách bảo vệ mới.

Thách thức đối với xuất khẩu nông sản Mỹ là Nhật Bản có thể không tiếp tục tự do hóa các rào cản thương mại, dẫn đến sự trì trệ hơn nữa trong nhập khẩu hàng nông sản và rằng Việt Nam có thể tìm cách cản trở hàng nhập khẩu cạnh tranh với sản xuất trong nước. Trong trường hợp của Việt Nam, trong khi nhập khẩu nguyên liệu đầu vào như bông tiếp tục phát triển, nhập khẩu các loại hàng hóa khác có thể bị cản trở, cho dù tăng trưởng kinh tế đang kích thích nhu cầu tiềm năng. Việt Nam có thể chọn giữ lại mức thuế cao như hiện nay và các rào cản vệ sinh đối với nhập khẩu thịt. Và Việt Nam có thể tìm cách giảm nhập khẩu các loại thực phẩm tiêu dùng đã chế biến và đồ uống, với hy vọng sẽ khuyến khích sản xuất trong nước để thay thế.

Những cơ hội cho xuất khẩu nông sản của Mỹ là cả hai nước (Việt Nam và Nhật Bản) có thể tiếp tục mở cửa thị trường đối với thương mại nông nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh của WTO hoặc đàm phán khu vực như TPP hay RCEP. Để làm được điều này, Việt Nam và Nhật Bản sẽ có khả năng hỗ trợ các nhà sản xuất nông nghiệp của họ để cạnh tranh hơn. Một số nhà sản xuất sẽ mở rộng và cạnh tranh tốt với hàng nhập khẩu, trong khi những người khác có thể rời bỏ nông nghiệp hoặc chuyển sang một hoạt động nông nghiệp khác. Đối với hàng hóa được bảo vệ, giá thấp từ nhập khẩu do cạnh tranh khốc liệt hơn sẽ có lợi cho người tiêu dùng. Đối với một số mặt hàng, giá nhập khẩu thấp hơn có thể dẫn đến tổng số tiêu thụ lớn hơn.

Nếu Việt Nam theo mô hình của Nhật Bản, Việt Nam có thể bảo vệ lĩnh vực nông nghiệp tốt hơn ở dạng này hay dạng khác khi nền kinh tế phát triển. Ngoài ra, nếu Nhật Bản quyết định tự do hóa nông nghiệp như đã từng làm với các ngành công nghiệp khác, nó sẽ ảnh hưởng đến các nước khác, trong đó có Việt Nam. Các mô hình phát triển của châu Á đã có nhiều tác dụng đối với nông nghiệp Mỹ. Những thay đổi có thể mở ra nhiều cơ hội mới.

Theo http://www.ers.usda.gov - MD

Từ khóa: Nhật Bản, Việt Nam, mô hình phát triển, nông nghiệp, thương mại, châu Á

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008751076
Go to top